Bức công hàm ngày 14-9-1958.

Đại Nghĩa – Sưu tầm (Danlambao) - Những năm gần đây một cái công hàm lịch sử gây dư luận xôn xao đang để lại hậu quả của nó làm nhói đau lòng dân tộc Việt vì đã được “nước bạn Trung quốc” ân cần nhắc lại nhưng chính quyền CSVN thì lờ đi như không biết. Lịch sử của tổ tiên ta đã chứng minh chủ quyền của dân tộc mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ấy thế mà chính quyền CSVN đã lên tiếng nói rằng nó là “một phần của Trung quốc theo lịch sử”. Xin hỏi đó là lịch sử nào?

Phóng viên Lê Dân đài RFA tìm hiểu qua tra cứu một số văn kiện và báo chí quốc tế trình bày như sau:

“Theo tư liệu của Bộ Ngoại giao Trung quốc thì văn kiện mang tên “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa” được tạp chí Beijing Review in lại trong số ấn hành ngày 18 tháng Hai năm 1980, thì Hà Nội đã thỏa hiệp được với Bắc kinh trong quá khứ về việc này. Chúng tôi xin trích thuật:

“Vào tháng Sáu năm 1956, hai năm sau khi chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã thành lập tại Hà Nội, thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Ung Văn Khiêm đã nói với ông Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung quốc tại Việt Nam, rằng theo dữ liệu của Việt Nam thì đảo Tây Sa (tức Paracels, Hoàng Sa) và đảo Nansha (tức Spratleys, Trường Sa) là một phần thuộc Trung quốc theo lịch sử”. (?)

“Đến ngày 4 tháng 9 năm 1958, Bắc kinh ra tuyên bố chính thức về hải phận của họ, bao gồm 12 hải lý từ bất kỳ mốc lãnh thổ nào của Trung quốc, “trong đó tính gồm cả các đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa…” (RFA online ngày 12-12-2007)

Sau đây xin trích nguyên văn lời công bố của chính quyền Bắc kinh về lãnh hải 12 hải lý và chủ quyền biển đảo của họ vào ngày 4 tháng 9 năm 1958:

“Lãnh hải nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước CHND Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh cách đại lục bằng hải phận quốc tế, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung quốc”. (X-cafevn online ngày 5-9-2009)

Mười ngày sau, tức là ngày 14 tháng 9 năm 1958 thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là Chu Ân Lai một bức công hàm có nội dung:

“Chúng tôi trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam DCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước CHND Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung quốc.

“Chính phủ nước Việt Nam DCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc, trong mọi quan hệ với nước CHND Trung Hoa trên mặt bể.
             
“Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”. (Tuần ViệtNam online ngày 20-7-2011)

Nguyên bộ trưởng Ngoại giao CSVN Nguyễn Mạnh Cầm đã giải thích bức công hàm này trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2-12-1992 và được Thông tấn Xã Việt Nam loan tin ngày 3-12-1992, xin trích như sau:

“Ông nói: “các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo Hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thỏ từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam là thuộc về chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này.
 

“Thêm vào đó, vào lúc ấy Việt Nam phải tập trung hết mọi lực lượng vào cuộc chiến chống Mỹ nên cần bạn bè khắp nơi. Tình hữu nghị Việt- Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. 

“Trong tinh thần đấy thì do tính cấp bách, quan điểm lãnh của đạo ta (tức ủng hộ Trung quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc. 

“Đặc biệt việc này còn nhắm vào nhu cầu cấp thiết lúc đó là ngăn ngừa đế quốc Mỹ không sử dụng các quần đảo đó để tấn công chúng ta. Việc lãnh đạo ta tạm công nhận như thế với Trung quốc không có can hệ gì đến chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng sa cả”. (RFA online ngày 12-12-2007)

Qua sự giải thích và biện minh của ông Nguyễn Mạnh Cầm có câu: “trong tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung quốc công bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa)” cho thấy rằng chính quyền VNDCCH, mà trong đó chủ tịch Hồ Chí Minh là chính đã phải cúi đầu công nhận chủ quyền của Trung cộng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước đó 2 năm chính thứ trưởng Ung Văn Khiêm cũng đã công nhận hai quần đảo nói trên “thuộc về Trung cộng theo lịch sử” rồi, làm sao chối cãi? 

Trong chuyến đi Bắc Kinh của thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn ngày 25-6-2011 gặp ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Trung quốc đặc trách đối ngoại và ông ta đã cố tình nhắc lại: 

“Tối 28-6, Tân Hoa Xã đưa lên mạng bản tin Anh ngữ, theo đó Bắc Kinh hyvọng Hà Nội sẽ thực hiện những gì hai bên đạt được trong chuyến công cán tại Trung quốc của thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, được hiểu là Trung quốc kêu gọi Việt Nam thực hiện điều gọi là đồng thuận. 

“Ngoài ra Tân Hoa Xã còn nhắc lại tư liệu lịch sử, theo đó năm 1958 khi Trung quốc tuyên bố chủ quyền các đảo ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam) thủ tướng Việt Nam ông Phạm Văn Đồng đã gởi công hàm ngoại giao bày tỏ sự đồng thuận với thủ tướng Trung quốc lúc đó là ông Chu Ân Lai”. (RFA online ngày 1-7-2011)

Theo tài liệu mà Wikileaks vừa tiết lộ bức công điện ngày 13-3-2008 của tòa đại sứ Mỹ tại Hà nội thì chắc chắn rằng theo “đồng thuận” ngầm, Việt Nam đã “bán” hẵn quần đảo Hoàng Sa cho Trung quốc. Có phải đây là sự “đồng thuận” theo như lời của Zheng Zhehua, phó Giám độc Cơ quan Hoạch định Chính sách thuộc Ban Quan hệ Á châu bộ Ngoại giao Trung quốc đã nói rõ về số phận của quần đảo Hoàng Sa nên đảng CSVN không thể công bố?

“Zheng lưu ý rằng Trung quốc đã chính thức tuyên bố ranh giới khu vực chủ quyền 12 hải lý xung quanh quần đảo Hoàng Sa, nơi họ tin rằng chủ quyền của họ là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, vẫn theo Zheng, Trung quốc không làm điều này với khu vực quần đảo Trường Sa, vì Bắc kinh thừa nhận rằng những tuyên bố như vậy tại đây là phức tạp hơn”. (Bí mật VN qua hồ sơ Wikileaks - trang 184)

Sau chuyến đi của ông Hồ Xuân Sơn và công bố “đồng thuận” của Tân Hoa Xã, chính quyền Việt Nam bắt đầu thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung cộng để bảo vệ HS-TS khiến cho những người Việt Nam nghi ngờ một sự “đồng thuận” khuất tất gì đó nên họ đã kiến nghị chính quyền công bố công khai cho toàn dân biết, nhưng cho đến nay nhà cầm quyền CSVN vẫn lặng câm. Luật sư Trần Vũ Hải đã nêu lên thắc mắc chung, ông nói:

“Trách nhiệm của Bộ ngoại giao là phải giải thích rõ là khi trao đổi với Trung quốc có đúng như quan điểm của Tân Hoa Xã loan báo hay không. Trước mắt phải khẳng định điều đó hay là Tân Hoa Xã theo cái truyền thống làm như thế liên quan tới Biển Đông mà không phản ánh đúng quan điểm của Việt Nam đã trình bày trong buổi đó… 

“Nếu không giải thích sẽ bị hiểu nhầm bất lợi về nhiều thứ: Nhưng tôi nghĩ rằng, sẽ có nhiều người đích thân yêu cầu bộ Ngoại giao phải giải thích về vấn đề này, Tân Hoa Xã có nói đúng hay họ xuyên tạc để có quan điểm rõ ràng…. 

“Theo VNExpress bản tin trên mạng ngày 30-6, ông Lê Văn Nghiêm, Cục trưởng Thông Tin đối ngoại nhìn nhận là đã học được bài học qua vấn đề Biển Đông. Đó là trong mọi trường hợp phải chủ động thông tin, không thông tin, hoặc thông tin không kịp thời không đầy đủ thì coi như nhường trận địa thông tin cho đối phương”. (RFA online ngày 1-7-2011)

Nhà ngoại giao kỳ cựu, ông Lưu Văn Lợi đã lên tiếng giải thích về bức công hàm này qua bài viết đăng trên tạp chí Xưa & Nay (Số 315, tháng 9-2008, trang 40) với tựa đề “Bức thư của thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi các nhà lãnh đạo Trung quốc ngày 14-9-1958” được ông Bùi Van Phú ghi lại như sau:

“Chính phủ Trung quốc tuyên truyền đây là một “bằng chứng” Việt Nam công nhận quần đảo Hoàng Sa là của Trung quốc. 

“Xem nguyên văn bức thư của ông Phạm Văn Đồng người ta thấy bức thư chỉ có một nội dung là ủng hộ Trung quốc quy định hải phận rộng 12 hải lý và chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải tôn trọng quy định 12 hải lý. Nội dung đó không hề nói đến vấn đề lãnh thổ, càng không nói gì đến vấn đề các quần đảo. Nội dung chỉ có thế, sao lại xuyên tạc là “sự công nhận” Hoàng Sa là của Trung quốc?” (Talawas online ngày 9-14-2009)

Bộ Ngoại giao vẫn im lặng không nói gì đến bức công hàm mà chỉ để Mặt trận Tổ quốc lên tiếng qua báo Đại Đoàn Kết và ở đó thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ nghiên cứu Biển Đông) cũng giải thích một cách lấp liếm như ông Lưu Văn Lợi trong khi ông Nguyễn Mạnh Cầm đã thừa nhận: “quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung quốc công bố chủ quyền của họ trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết..” còn ông thứ trưởng Ung Văn Khiêm thì nói rằng:“Theo dữ liệu của Việt Nam thì đảo Tây Sa (tức Paracels Hoàng Sa) và đảo Nansha (tức Spratleys, Trường Sa) là một phần thuộc Trung quốc theo lịch sử”. Có một điều đáng nói là “ lãnh đạo ta” đã vô liêm sĩ và thiếu tinh thần trách nhiệm khi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lúc bấy giờ không phải thưộc quyền của mình nên họ đã trơ trẻn nhận vơ là của “đồng chí vĩ đại”. Cả hai ông cớm ngoại giao đã tuyên bố rõ như thế mà còn giải thích quanh co chỉ nhận có hải phận 12 hải lý? Chính vì công nhận 12 hải lý nầy mà Trung cộng đã ngang ngược hoành hành trên vùng biển quanh Hoàng Sa và Trường Sa mấy năm nay, vậy mà ông thạc sĩ Hoàng Việt viết:

“Công hàm 1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH-Trung quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”…

“Trung quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung quốc trong tình thế đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung quốc vẫn không quên mục đích “sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã “lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố.


“Công hàm 1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối XHCN bấy giờ là cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan…


“Trong công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định đã thừa nhận chủ quyền của Trung quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý”….


“Trong công hàm 1958, thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế”…(Tuần ViệtNam online ngày 20-7-2011)

Luật gia Trần Đình Thu cũng lập luận cùng một giọng điệu với thạc sĩ Hoàng Việt trong Đại Dân Tộc, ông còn cho rằng cái công hàm “nói nôm na giống như một tiếng vỗ tay đồng thuận hay một lời la ó phản đối”, thưa ông Thu, ở đây tôi nghĩ không phải vậy, mà nó còn để lại một hậu quả nghiêm trọng không lường khi mà “nước bạn Trung quốc” đã cố tình chiếm đảo của ta thì chúng ta không thể coi nhẹ cái công hàm ấy được. Qua việc phân trần của luật gia Thu cho chúng ta thấy được cái cảnh bị lệ thuộc thiên triều của Việt Nam DCCH lúc bấy giờ bi thảm như thế nào.

“Theo luật quốc tế, gía trị của công hàm chỉ là nêu quan điểm của chính phủ một nước về một vấn đề quốc tế, nói nôm na như là tiếng vổ tay đồng thuận hay một lời la ó phản đối. Chỉ khi nào Việt Nam ký hiệp định với Trung quốc nói rõ những vùng biển đảo nào thuộc Trung quốc thì khi đó mới có gía trị.
  
“Vào năm 1958, trong bối cảnh Việt Nam DCCH đang quan hệ với Trung quốc, việc ra công hàm ủng hộ Tuyên bố 1958 của nước bạn Trung quốc là không thể không làm. Khổ nổi tuyên bố của nước bạn quá ngạo ngược về cái “ranh đất không giống ai” đó. Như vậy thì công hàm phải viết thế nào đây?…

“Tuy nhiên, công hàm 1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khéo léo công nhận chỉ 1 vấn đề là bề rộng lãnh hải 12 hải lý mà thôi…


“Từ đó chúng tôi kết luận: Công hàm 1958 không thể là nguyên nhân dẫn đến các rắc rối về sau liên quan đến chủ quyền biển đảo giữa Việt Nam và nước bạn Trung quốc. Việc nước bạn Trung quốc có những tuyên bố thiếu phù hợp gần đây là do sự chủ động của họ”. (Đàn Chim Việt online ngày 12-12-2011)

Từ lâu rồi Trung quốc hoành hành trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên Biển Đông, ông Thu có thấy được hậu quả tai hại của cái công hàm đó như thế nào không? đối với người vô trách nhiệm thì cái công hàm đó như “một tiếng vỗ tay”, nhưng với “nước bạn Trung quốc” có chủ tâm chiếm đảo của ta thì nó lại khác, nó là một bằng chứng có gía trị vô cùng. Để biện minh cho việc làm ngang ngược của mình trên Biển Đông, Trung cộng đã nhắc lại cái công hàm năm 1958 theo như bức công điện ngày 13-3-2008 của tòa đại sứ Hoa kỳ tại Hà Nội gửi về bộ Ngoại giao Hoa kỳ mà Wikileaks vừa tiết lộ được nhà báo Ngô Nhân Dụng viết nên bài

“Một di sản của Phạm Văn Đồng” lược trích:

“Việc ngăn cấm các công ty quốc tế tìm dầu trong thềm lục địa Việt Nam buộc chính quyền Bắc kinh phải giải thích với nước có những hang dầu bị cấm. Và họ đã viện dẫn lá thư Phạm Văn Đồng làm bằng cứ. Một điện văn của đại sứ Mỹ ở Hà nội (mới tiết lộ cuối tháng 8 năm 2011) kể lại mấy cuộc tiếp xúc với quan chức Trung cộng để nghe họ biện minh việc cấm đoán các hảng dầu Mỹ. Trong cuộc gặp gỡ ngày 7 tháng 3 năm 2008 với nhân viên Ngoại giao Mỹ, ông Trịnh Chấn Hoa (Zheng Zhenhua Đ/N), phó chủ nhiệm phòng Kế hoạch thuộc Vụ Á châu, bộ Ngoại giao Bắc kinh, đã nêu lên lá thư do ông Phạm Văn Đồng ký gửi thủ tướng Chu Ân Lai để chứng minh Việt Nam đã chính thức công nhận chủ quyền của Trung quốc trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1958”. (Người Việt online ngày 13-9-2011)

Trung cộng đã tung hoành như cướp trên vùng biển đảo của ta với biết bao vụ đâm chìm tàu và bắn giết ngư phủ và cái ngang ngược nhất là đã cắt cáp tàu thăm dò dầu khí trong thềm lục địa của ta. Trung quốc đã điều biết bao tàu lớn nhỏ uy hiếp, đe dọa nhân dân ta cũng như đưa tàu khai thác dầu khí lớn nhất của chúng vào Biển Đông thì chuyện giải quyết sẽ ra sao?

Mới vừa rồi, khi trả lời chất vấn trước Quốc hội, thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố:

“Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ và lịch sử pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình”.
(VNExpress online ngày 25-11-2011)

Với tham vọng bành trướng với quân đông, tàu lớn, súng to của “nước bạn” chúng ta sẽ “dùng biện pháp hòa bình” để lấy lại Hoàng Sa như thủ tướng Dũng vừa tuyên bố, trong khi chúng chiếm của ta bằng máu thì liệu có tin được không?

Đừng nghe những gì ông Dũng nói, ông ta chỉ hô hào suôn để lừa phỉnh và trấn an dư luận, thương lượng bí mật song phương có tính cách “câu giờ” thì chắc chắn rằng Hoàng Sa sau 50 năm Trung cộng chiếm cứ mà không có thưa kiện ra quốc tế theo như lời cảnh giác của luật sư Trần Lâm thì xem như “cứt trâu để lâu hóa bùn”. Đứng trước hiểm họa vĩnh viễn mất Hoàng Sa và cả Trường Sa nhân dân Việt Nam đã biểu tình phản đối và tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã long trọng tuyên bố:

“Được biết tình hình này, một số cựu chiến binh lão thành phẫn nộ: Họ dựa vào công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 chứ gì, nếu cần dân Việt nam sẽ xé toạc công hàm đó, gạch chéo lên công hàm đó: quyết định về lãnh thổ mà không có chuẩn y của Quốc hội, không trưng cầu dân ý thì chẳng có gía trị gì, dân xé lúc nào cũng được. Dân chúng tôi không bị ràng buộc bởi công hàm đó!” (Đối Thoại online ngày 13-12-2007)

Thay mặt lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, thượng tọa Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Tăng thống ra tuyên cáo về cái công hàm ngày 14-9-1958 xin trích như sau:

“Công hàm ngày 14-9-1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ đại diện cho thiểu số đảng viên cộng sản mà không đại biểu cho toàn dân miền Bắc Việt Nam, vì nội dung bán nước của công hàm không được trưng cầu dân ý, cũng không được thông qua trước Quốc hội VNDCCH, dù nhân dân không cộng sản chẳng có đại biểu tại quốc hội này y hệt như quốc hội hiện nay…

“Xem như thế công hàm ngày 14-9-1958 của ông Phạm Văn Đồng vô gía trị trên mặt pháp lý quốc tế, pháp lý quốc gia và ý chí dân tộc. Công hàm chỉ là dự tính chia chác phi pháp giữa hai đảng cộng sản Việt-Trung”.
(Thời Luận ngày 17-9-2008)

Theo đề nghị của ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch MTTQVN tại Tp Sài Gòn và cũng là nguyện vọng của nhân dânViệt Nam yêu cầu:

“Nhà nước nên tổ chức đối thoại một cách công khai về Biển Đông, trên tinh thần xây dựng, chứ đồng thuận mà không có phản biện chỉ tạo nên một sự đồng thuận gỉa tạo…Một dân tộc có quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước rất là hiển hách như Việt Nam thì không nên quỵ luỵ trước Trung quốc”. (Bauxite Việt Nam online ngày 19-9-2011)

Đại Nghĩa - Sưu tầm

http://danlambaovn.blogspot.com/

44 Nhận xét

  1. Người Nam-Địnhlúc 03:41 2 tháng 1, 2012

    Cả nước Việt-Nam cũng đang bị Cọng-Sản bán.Sá gì một hai cái đảo.

    Trả lờiXóa
  2. Dự kiến Thủ tướng được tăng nhiều quyền hạn
    http://vtc.vn/2-316170/xa-hoi/du-kien-thu-tuong-duoc-tang-nhieu-quyen-han.htm

    (VTC News) – Dự kiến bổ sung nhiệm vụ thực hiện lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm… cho Thủ tướng Chính phủ.

    Trả lờiXóa
  3. Xin mời Quân Đội Nhân Dân Việt Nam anh hùng tiến ra Hoàng Sa , Trường Sa , và dọc biên giới Việt - Trung , tái chiếm những đất , đảo . Rêu rao cái anh hùng mà dân nào thấy ?

    Trả lờiXóa
  4. SỰ THẬT VỀ CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG

    Luật sư Nguyễn Hữu Thống : Tôi chắc là thật ra Hồ Chí Minh có viết thư cho Mao Trạch Đông rồi. Trung Quốc nắm hai cái thư đó thì nó mới chịu cho Đảng CSVN giải phóng Miền Nam năm 59. Chuyện Chu Ân Lai với Phạm Văn Đồng chỉ là cái bề ngoài thôi…”

    (xem Sự thật về công hàm của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng Nhã Trân phỏng vấn Luật sư Nguyễn Hữu Thống )

    Trả lờiXóa
  5. toàn dân hảy nổi lên thí mạng với bọn việt cộng
    tội buôn dân bán nước phải bị tru di

    Trả lờiXóa
  6. Chỉ có một câu kết luận chính xác nhất :Hồ chí Minh và đảng việt cộng là lủ Việt gian ban nước.

    Trả lờiXóa
  7. Sự thật về công hàm của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng

    Mời quý vị cùng chúng tôi tìm hiểu qua cuộc phỏng vấn của Nhã Trân với Luật sư Nguyễn Hữu Thống ở California, Chủ Tịch Uỷ ban Luật Gia Bảo Vệ Nhân Quyền, một tổ chức của người Việt ở hải ngoại tại Hoa Kỳ.

    Nhã Trân : Xin chào Luật sư Nguyễn Hữu Thống. Thưa Ông, Công Hàm của cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng của Nước Việt nam Dân Chủ Công Hoà gửi cho Thủ Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai vào Năm 1958 có giá trị thế nào về mặt pháp lý?

    Luật sư Nguyễn Hữu Thống : Cái thư của Phạm Văn Đồng không có giá trị và vô hiệu lực về phương diện công pháp quốc tế. Ông Phạm Văn Đồng chuyện nhượng lãnh hải cho Trung Quốc thì thứ nhất họ vi phạm pháp lý, mạo nhận tư cách sở hữu chủ bởi vì đất đó lúc đó thuộc Việt Nam Cộng Hoà chứ không phải của Miền Bắc. Cái đó là một điểm. Điểm đó quan trọng nhất. Ông Phạm Văn Đồng trả lời cái thư của ông Chu Ân Lai nhưng mà tôi không có quyền nhường lãnh hải cho ông trong đó có Tây Sa và Nam Sa, tức Hoàng Sa và Trường Sa đó, mà Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam chứ không phải của Trung Quốc. Trung Quốc có thể có 12 hải lý trong vùng biển lãnh thổ, cái đó là áp dụng cho Trung Quốc thôi chứ không áp dụng cho Hoàng Sa - Trường Sa.
    Cái việc thứ nhì, đảng cộng sản và Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng vào Năm 1958 không có tư cách là sở hữu chủ để mà chuyển nhượng Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Vấn đề lãnh thổ và lãnh hải phải do quốc hội quyết định, do quốc dân quyết định chứ không phải do thủ tướng, không phải do hành pháp quyết định. Do quốc hội mà Quốc Hội của Việt Nam Cộng Hoà có lên tiếng 3 lần rồi.

    Đảng cộng sản không thể nào thay mặt quốc dân được, thủ tướng chỉ là người thi hành luật pháp thôi chứ không có quyền quyết định về vấn đề chủ quyền lãnh hải - lãnh thổ.

    Nhã Trân : Thưa Luật Sư, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam và nằm trong vùng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, điều này hẳn là Trung Quốc khi ấy nắm rõ. Như vậy thì tại sao chính quyền Bắc Kinh vẫn tuyên bố có quyết định về lãnh hải của họ bao trùm cả khu vực hai quần đảo này?

    Luật sư Nguyễn Hữu Thống : Tôi chắc là thật ra Hồ Chí Minh có viết thư cho Mao Trạch Đông rồi. Trung Quốc nắm hai cái thư đó thì nó mới chịu cho Đảng CSVN giải phóng Miền Nam năm 59. Chuyện Chu Ân Lai với Phạm Văn Đồng chỉ là cái bề ngoài thôi. Cộng sản muốn "giải phóng" một ngàn triệu con người Á Châu khỏi ách đế quốc tư bản qua đấu tranh võ trang. Hồ Chí Minh muốn "giải phóng" Miền Nam thì phải nhờ Mao Trạch Đông vào năm 56, lúc đó tổng tuyển cử theo hiệp định Geneva không thành.

    Thế thì đến năm 58-59 cộng sản thành lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thì lúc đó đã cấu kết với Trung Quốc rồi. Thời kỳ đó chỉ có Trung Quốc viện trợ thôi. Vì thế mà có sự cam kết hồi 59, trong kế hoạch của đảng cộng sản có cái đó. Năm 59 nó phát động chiến dịch giải phóng Miền Nam thì làm gì có tiền, chỉ có Trung Cộng giúp thôi. Chắc chắn vì thế đảng cộng sản mới nhường cho Trung Quốc lãnh hải, trong đó có cả Hoàng Sa-Trường Sa. Việt Nam yếu thế nên Trung Cộng không sợ.

    Tại sao Trung Quốc không đòi những đảo như đảo Ba Bình của Đài Loan, những đảo của Phi Luật Tân mà đòi của Việt Nam, bởi những nước kia dân đánh động, hễ động một cái là dân biểu tình, đập phá toà đại sứ, báo động khắp thế giới, trong khi cộng sản Việt nam không cho dân biểu tình. Đảng Cộng Sản Việt Nam không cho người dân biểu lộ thái độ, quốc hội của cộng sản thì không dám nói gì cả.

    (Nguồn: Sự thật về công hàm của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng Nhã Trân phỏng vấn Luật sư Nguyễn Hữu Thống )

    Trả lờiXóa
  8. Trích bài “Công hàm của ông Phạm Văn Đồng: một vấn đề pháp lý” của Trương Nhân Tuấn(http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3630):


    Năm 1977 cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng giải thích quan điểm của ông về công hàm này như sau: «đó là thời chiến nên phải nói như vậy thôi»!

    Sau đó ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao, trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992, nói như sau:

    « Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này.

    Thêm vào đó, vào lúc ấy Việt Nam phải tập trung hết mọi lực lượng vào cuộc chiến chống Mỹ nên cần bạn bè khắp nơi. Tình hữu nghị Việt-Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị.

    Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.

    Đặc biệt, việc này còn nhắm vào nhu cầu cấp thiết lúc đó là ngăn ngừa đế quốc Mỹ không sử dụng các quần đảo đó để tấn công chúng ta. Việc lãnh đạo ta tạm công nhận như thế với Trung Quốc không có can hệ gì đến chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cả».


    Thông tấn xã Việt Nam ghi lại và đăng ngày 3 tháng 12 năm 1992.

    Ý của ông Cầm là vì HS và TS lúc đó thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) nên việc công nhận như thế chỉ là «tạm công nhận», không quan hệ gì đến «chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam».

    Nhưng một công hàm quốc gia đâu thể nào công nhận «vào thời chiến» và không công nhận vào thời khác, nói như ông Đồng, hay «tạm công nhận» như ông Cầm như thế được?

    Công hàm của ông Phạm Văn Đồng là văn bản có tầm quan trọng ở mức quốc gia. Quốc gia có tên gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH) (gián tiếp) công nhận chủ quyền HS và TS thuộc về quốc gia có tên gọi Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Nội dung công hàm này không thể thay đổi theo thời gian hay thay đổi theo tình trạng chính trị. Lời nói chữa lại của ông Đồng hay của ông Cầm là những lời tráo trở, chỉ làm cho cái chế độ gọi làViệt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, sau đó là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thêm xấu hổ chứ không hề có giá trị phủ nhận công hàm ghi trên.

    Công hàm của ông Đồng có hai ý nghĩa: 1/ công nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS. 2/ Phủ nhận chủ quyền của VNDCCH tại HS và TS.

    Lời nói chữa lại của ông Đồng năm 1977 và của ông Cầm năm 1992 củng cố thêm hai ý nghĩa này.



    Trương Nhân Tuấn
    © Thông Luận 2009

    Trả lờiXóa
  9. Công hàm bán nước Phạm Văn Đồng đề ngày 4 mà Đại Nghĩa lại cho thêm số 1 vào đằng trước số 4 rồi.

    Trả lờiXóa
  10. CHUYỆN NHỎ.
    Đỗ Trọng.

    Hồ Chí Minh gốc Trung Hoa,
    Ông thờ cố quốc cũng là đương nhiên.
    Biển Đông Ông cống tổ tiên,
    Phạm Văn Đồng, Ung Văn Khiêm dám gàn?
    Lê Khả Phiêu hiến Nam Quan,
    Thác Bản Dốc dâng lân bang cầu hòa.
    Nông Đức Mạnh cũng quá cha,
    Bao tài nguyên rước Trung Hoa tới đào.
    Nguyễn Phú Trọng mới siêu sao,
    Mang hẳn cờ đào đem tặng Trung Hoa.
    Ích Tắc, Chiêu Thống thua xa,
    Sao bằng đồng chí chúng ta bây giờ!!!

    Sài Gòn.12/2011.

    Trả lờiXóa
  11. Nguyễn Sinh Cộng(HCM tên một người TC cứu mang)là một người hiếu thắng muốn nhanh chóng thấy được kết quả "gi/phóng Miền nam"nên vô tình giao cho giặc truyền kiếp tự do đánh chiếm các đảo của VNCH đang giữ. Trước đây TC luôn đề nghị với ông NgSC"để đưa quân đội TC sang tham chiến ở c/trường MNVN(giống như ở Triều tiên)"nhưng ông ta có nghi vấn"sợ nợ máu TC không trả được...hoặc dễ bị TC cướp công"nên chỉ mượn đỡ vũ khí quân trang quân dụng và lương thực(tựa như GP Điện Biên Phủ 1954)rồi"hạ hồi phân giải"và có chuyện "vũ khí của NgaXô đưa qua ngã TC bằng tàu hỏa bị thay nhãm mác TC và học nhái từ những năm 60-mãi sau này bị NgaXô phát hiện nên mới đưa theo đường Biển".Nên cho tới nay việc trả nợ TC chỉ có cách "nhượng đất, rừng, biển đảo...hay cho trúng thầu nhiều dự án quan trọng...Mặc dù"đánh Mỹ"chưa"tớiNgười VN cuối cùng"xong những người còn sống phải chịu t/nhiệm trả nợ theo ý muốn của Trung Cộng.Rốt cuộc VC gi/phóng MNVN để cho TC hưởng thụ là chánh.

    Trả lờiXóa
  12. Nguyễn Sinh Cung = Nguyễn Sinh Cộng = Nguyễn Sinh Nợ

    Trả lờiXóa
  13. Mao Xoềnh Xoáng khuyên csVN nên "đánh Mỹ cho tới người VN cuối cùng"

    Trả lờiXóa
  14. @N?c danh

    Không phải vậy đâu bạn ơi. Công hàm bán nước Phạm Văn Đồng đề ngày 14/9/1958 và được ông Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng TQ, Chu Ân Lai, để trả lời cho Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Quốc Vụ Viện TQ về lãnh hải của Tàu, trong đó có nói Tây Sa (tức Hoàng Sa của VN) và Nam Sa (tức Trường Sa) là nhừng hải đảo của TQ.

    Trả lờiXóa
  15. Vì hiếu thắng nên"Hầu bao"của DTVN hiện nay đang nằm ở bên TQ

    Trả lờiXóa
  16. Người việt phẩn uấtlúc 08:12 2 tháng 1, 2012

    Hởi toàn dân hãy xuống đường đấu tranh đòi lại đất đai của cha ông để có chổ cho người nằm xuống chứ bọn việt gian cọng sản đã bán đất nước để làm giàu cho bản thân rồi. ĐỨNG DẬY ĐẤU TRANH CỞI BỎ XIỀNG XÍCH ĐI THÔI. ĐỒNG BÀO ƠI.

    Trả lờiXóa
  17. Công hàm Phạm Văn Đồng đúng sai thế nào chưa bàn tới. Nhưng cái cách mà công hàm này ra đời phản ánh đúng bản chất của cộng sản VN : để có được quyền lực, họ sẵn sàng dùng mọi phương tiện, mọi thủ đoạn bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp tổ tiên dân tộc.

    Trả lờiXóa
  18. Công văn này chứng tỏ một điều chắc chắn đối với đảng cộng sản: Đảng đứng trên cả dân tộc !

    Một quyết định thiển cận ích kỷ gây hại ngàn đời cho con cháu của đảng cộng sản! Nhân dân sẽ định tội những tên đầu lãnh này.

    Trả lờiXóa
  19. công hàm này không có tính pháp lý nhưng nó là tấm bia nhục nhã ghi lại tội phản bội tổ quốc của những kẻ mang chủ thuyết ngoại lai áp đặt lên dân Việt chúng ta.

    Trả lờiXóa
  20. Càng ngày đảng csvn càng để lộ bộ mặt bán nước. Mới đây họ tự ý in thêm một ngôi sao vào cờ Trung Quốc để tỏ rõ ý định dâng cả nước VN cho bè lũ đại Hán thì đã quá ró rồi.

    Trả lờiXóa
  21. Chưa có một Đảng nào, một chế độ nào, một chính quyền nào trên thế giới lại dám và đang tâm lấy lãnh thổ bán cho ngoại bang như đảng, chính quyền cs yêu quí của chúng ta hiện nay. Dân tộc VN, nhân dân VN đau đớn quá.

    Trả lờiXóa
  22. Các bác, các đồng chí ơi, làm gì có chuyện bán với chả buôn. Chả được cóc khô gì đâu các đồng chí ạ. Chúng nó đè ra trấn "nột" cả thôi. Không gật có mà mất ghế, mất "tính đảng", mất cả mạng ấy chứ lị. Thôi thì tránh voi chả xấu mặt nào, quì một tí, vững vàng hơn một tí ... các bác nghĩ xem: các bên đều có lợi cả đấy.
    Đảng ta có lợi được ngồi lì thêm vài năm
    Đảng bạn được lợi thêm tí ti tài nguyên thiên nhiên
    Nhân dân ta từ nay được vinh dự trở thành công dân 1 nước có dân số đông nhất thế giới, có nền kinh tế hùng mạnh sắp tiến đến nhất thế giới, lại có lực lượng quân sự khiến các nước phải ngưỡng phục.
    Thế đấy, ngôi sao ta bé lại, gắn vào lá hồng kỳ đại đoàn kết, và ta lại được lớn lên, ngang tầm thế giới cơ mà sao các bác lại bức xúc thế ạ
    Kúng hỉ phát tsài các bác nhá

    Trả lờiXóa
  23. Còn nước mà mất đảng nào được ich gì

    Trả lờiXóa
  24. Này này bà bảo cho Đồng biết
    Bán nước hại dân mặt Cộng bay

    Trả lờiXóa
  25. THÔNG ĐIỆP ĐẦU NĂM GỞI ĐỒNG BÀO THÂN MẾN,

    Trong đêm khuya thanh vắng, bổng chợt thức giấc bởi có tiếng vọng về từ cỏi âm xa xôi ngàn dặm

    MỜI CÔ BÁC MUA NHÀ CỬA, XE CỘ vvv..

    Hết rồi, đất nước khó tồn tại.

    Trả lờiXóa
  26. Nhìn mặt những thằng Cộng Sản miền Bắc VN....sao mà trông gian manh thế ???
    Thôi ...xin phổ biến trong nhân gian VN dùm ;

    " Lấy xác Cộng lấp sông Bến Hải ,
    Nhổ râu Hồ làm bàn chảy chà chân . "

    Trả lờiXóa
  27. Nếu tinh ý các bạn sẽ thấy cái tuyên bố tào lao bá láp ngày 4-9-1958 của TQ được làm ra chỉ để cho HCM công nhận mà thôi ngoài ra không có nước thứ 2 nào công nhận nó cả ngay cả LX-Bắc Hàn-Cuba...

    Như vây cho phép chúng ta kết luận:

    1) HCM qủa là tào lao bá láp đại ngu dốt mới ra lệnh cho PVĐ ký CH ngày 14.9.58 vào ngày chủ nhật ngay sau khi có một cuộc họp thu nhỏ của BCT.

    2) HCM là người Tàu ( Siêu điệp viên Hồ Tập Chương ).

    Trả lờiXóa
  28. Có lẻ PVĐ tính cho tàu cộng ăn quả lừa để lấy viện trợ, không ngờ "bút sa gà chết"vì trong thể chế xhcn làm gì có chuyện trưng cầu dân ý,vậy mới có câu"dân đừng có no để nhà nước no mà" lừa tàu cộng không được đành đưa quả lừa cho dân mình ăn thôi.

    Trả lờiXóa
  29. Chuyện cách đây nửa thế kỷ rồi sao cứ nhắc hoài.Bây giờ "con hơn cha nhà có phúc"cứ coi thủ tướng Dũng nhà mình tiếp nối sự nghiệp của TT Phạm văn Dong duoi chu trương của đảng Bán biển,bán rừng,bán Bauxit là mấy chục năm sau có chiện để nói tiếp..

    Trả lờiXóa
  30. Nhiều bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Để hủy bỏ nhiều văn bản qui phạm pháp luật phi lý thì hiện nay chưa có cơ chế để thực hiện. vì vậy cần gấp rút tổ chức Tòa án hiến pháp, có như vậy mới hủy bỏ được những nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị của chính phủ và các bộ ngành khi nó vi hiến. Công hàm do cố thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 và một văn bản vi hiến, nó vi phạm ngay chính hiến pháp năm 1946 khi đó đang còn hiệu lực. Vì vậy, cùng với đấu tranh ngoại giao, thì Việt Nam phải sử dụng ngay công cụ pháp lý để hủy bỏ những văn bản vi hiên, vi luật của chính mình để tuyên bố với thế giới rằng nhân dân VN không chấp nhận hành vi lén lút bán nước của giới lãnh đạo qua các thời kỳ. Sau này Trung Quốc có vin vào cái công hàm đó của cá nhân ông Đồng thì chúng ta trưng ra bản án của Tòa là công lý đã đứng về nhân dân, ông Đồng chỉ là một cá thể, không đủ tư cách để xác định chủ quyền lãnh thổ nên công hàm đó hãy vứt vào sọt rác.

    Trả lờiXóa
  31. TRÍCH
    http://anhbasam.wordpress.com/2012/01/02/bao-trung-quoc-lai-de-doa-viet-nam/#comment-78377

    Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng sau khi đến thị sát Lạng Sơn, đã giàn giụa nước mắt, nói: Người Trung Quốc thật độc ác! Có thể thấy giải phóng quân đã thực hành mệnh lệnh hủy hoại cho bằng sạch. Cái gì lôi được về thì lôi, ngay cả đến cái cột điện khó lôi về được cũng chẳng còn (Những gì của chúng ta vốn chi viện, cái nào thu về được thì thu về. Những gì không xê dịch được hoặc không vận chuyển kịp thì phải phá hủy cho hết).

    HẾT TRÍCH

    Nhưng PVĐ đã HÈN NHÁT ký nhường HOÀNG SA năm 1958 có lẽ NHU HƯỢC nghe Thầy HCM ...

    Hơn 37 năm BÁM QUYỀN ghế Thử tướng , PVĐ đã chỉ là 1 việc đáng phỉ nhổ là ký công hàm bán Nước năm 1958...về già đui mù thường hay mời bác ruột tôi người giỏi Văn chương Pháp

    từng là Cận thần Vua Hàm Nghi và có viết tiểu sử VUA HÀM NGHI go nhà Xuất bản QĐND ấn hành

    đến chơi tâm sự ...nhưng bác ruột tôi cũng chán cái lão BÙ NHÌN này

    Trả lờiXóa
  32. Tham khảo: http://nhandanvietnam.org/view.php?storyid=564

    Tài liệu 1:
    Việt Nam Cộng Hòa cũng công nhận 12 hải lý của Trung quốc.

    Mới đây tôi được nghe nói, đọc bài của quý vị sau đây: Vũ Quang Ninh, Đinh Quang Anh Thái, Xuân Hồng, Vĩnh Phú, sử gia Trần Gia Phụng (sic), Hoàng Long Hải, Phương Hoa Vũ Thị Hòa (VOVN), Mường Giang, Hà Sĩ Phu, Quỳnh Thi…rủa xả Phạm Văn Đồng. Nhưng số báo Việt Tide 335 ra ngày 14-12-2007, chủ nhiệm Vũ Quang Ninh, Tổng thư ký Đinh Quang Anh Thái cho đăng ngay trang bìa cái thư gọi là công hàm ngày 14-9-1958 của Phạm Văn Đồng với hàng chữ lớn “VĂN KIỆN CHỨNG MINH CỘNG SẢN HÀ NỘI DÂNG ĐẤT CHO CỘNG SẢN BẮC KINH”. Tôi cố gắng đọc lại từng chữ vẫn không thấy chữ nào là dâng đất cho Bắc Kinh, cũng chẳng thấy mấy chử Hoàng Sa và Trường Sa nào cả, đặc biệt trong số này có bài viết của Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại xác nhận “Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố là 12 hải lý cách bờ biển, quốc tế thường công nhận 3 hải lý” trang 41. Chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam Công. Hòa, chỉ công nhận có 12 hải lý mà gọi là dâng đất cho Trung quốc, thì chính ông Việt Nam Cộng Hòa dâng đất cho Trung quốc, trong đó có sử gia Trần Gia Phụng, Phương Hoa vũ Thị Hòa…dâng đất cho Trung quốc chứ còn ai nữa.

    Tài liệu 2:
    Việt Nam Công Hòa dâng đảo Hoàng Sa cho Trung quốc

    Năm 1973, phái đoàn Việt Nam và Nhật Bản đi sưu khảo Hoàng Sa trong phái đoàn có Kỹ sư Lưu. Khi tới quần đảo Hoàng Sa thì đã thấy cờ Trung quốc ở nhiều đảo rồi nên không vào được, chỉ còn vài đảo có quân Việt Nam thôi. Tin tức này VNCH im thin thít không công bố Đến 19-1-1974 thì Trung quốc chiếm hết.

    Trong bài viết của nhà văn Duy Lam, anh của nhà văn Thế Uyên lúc đó là Trung tá Nguyễn Kim Tuấn, chánh văn phòng của Trung tướng Ngô Quang Trưởng, vào ngày 19-1-1974 có nhận được điện thoại bên bộ tư lệnh Hải quân vùng I Duyên hải xin phi cơ chiến đấu ra yểm trợ cho Hoàng Sa, Trung tá Tuấn gọi điện thoại cho tướng Khánh biệt danh là Khánh Khỉ cho biết tất cả máy bay chiến đấu Mỹ cung cấp cho không có loại nào đủ xăng để trở về đất liền, nên từ chối. Trong khi đó, máy bay Mig của Trung quốc vần vũ trong vòm trời Hoàng Sa. Đọc bài của phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại người ra lệnh tác chiến. Đọc bài “Trận Hải chiến lịch sử Hoàng Sa” của Đại tá Hà Văn Ngạc, người ra lệnh khai hỏa, đứng chờ máy bay F5 ra tiếp ứng. Điều đó chứng tỏ lãnh đạo VNCH chẳng có kế hoạch phòng thủ, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa gì cả, vì đến phương tiện phi cơ cũng không có phối hợp với bên Không quân bảo vệ bầu trời hải đảo có không, cũng không biết, cũng không áp dụng binh thư “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng hay Địch yếu ta đánh, Địch manh ta rút để bảo toàn lực lượng”. Nghe lệnh Tổng thống, ngài Kỳ Thoại cho lênh đánh đại để nướng quân, thật vô trách nhiệm, bao nhiêu người chết oan. Thiết lập kế hoạch tái chiếm, rồi bỏ luôn. Nói theo giọng điệu chống Cộng ở hải ngoại thì Việt Nam Cộng Hòa đã dâng đảo Hoàng Sa cho Trung quốc. Nói như vậy có sai không?

    Trong bài Trần Phong Vũ phỏng vấn Nguyễn Văn Ngân cố vấn của Tổng thống Thiệu đã cho biết như sau:

    “Cũng tương tự như vậy, việc Trung Cộng chiếm Hoàng vào đầu năm 1974 đã được sự thỏa thuận ngầm của Mỹ để đặt Cộng Sản Hà nội sau này trước một “fait accompli”. Ông Thiệu biết Hải quân Việt Nam không đủ sức đương đầu với hải quân Trung Cộng và hạm đội 7 Hoa Kỳ sẽ không can thiệp nhưng ông vẫn ra lệnh tác chiến như một chứng liệu về chủ quyền lãnh thổ sau này”

    Đánh để cho Trung Cộng chiếm, đặt Cộng sản Hà Nội chuyện đã rồi. Thế có nghĩa là cho Trung Cộng chiếm còn hơn để thằng Cộng sản Hà Nội cai trị, không ăn thì đạp đổ - Ai dâng đất cho Trung Cộng đây - Việt Nam Cộng Hòa chứ còn ai nữa !

    Trả lờiXóa
  33. @Nặc danh

    Ai đó nghỉ Mỹ sẽ đem quân vào VN giúp VNCH sau HD Paris 1973 thì đúng là mơ tưởng vì đó là vi phạm đạo luật "Case-Church Amendment" được QH Mỹ ban hành vào năm 1973 là cấm Chánh Phủ Mỹ cho phép quân đội Mỹ hoạt động quân sự ở Đông Dương. Và cũng chính đạo luật này đã bó tay TT Nixon không thể can thìệp "Hải chiến Hoàng Sa 1974" và TT Ford cũng không can thiệp "Chiến Dịch HCM 1975".


    Nhân dân VN sẽ bị CSTQ/CSVN lừa dài dài cho tới khi mất nước cũng chả hiểu là tại vì sao !

    Trả lờiXóa
  34. Đừng nghe những gì cs nói
    Mà hãy nhìn những gì cs làm
    Hệ thống từ khi lịch sử thế giới xuất hiện có cncs đến nay toàn là nói láo mị dân ..và chỉ dùng quyền lực áp đặc và thanh trừng dân tộc , chia rẽ dân tộc giết chóc lẫn nhau tạo ra hận thù giai cấp cũng nhằm mục đích giết chóc đễ răn đe độc quyền cai trị không ai dám phản biện chống lại cộng sản tàn ác ...tự tung tự tác ...một mình một chợ ...

    Trả lờiXóa
  35. bác Đồng ký công hàm bán nước khi bác đang phê thuốc phiện.
    thông cảm nhé các bạn.

    Trả lờiXóa
  36. Có một cách để lấy lại Hoàng Sa:

    Khôi phục nguyên trạng chế độ Việt Nam Cộng hòa. Khi đó, Hoàng Sa và Trường Sa không còn là lãnh thổ của miền Bắc dưới sự lãnh đạo của ĐCS nữa. Vì vậy, Công hàm cuả PVĐ tự nhiên trở thành một tờ giấy lộn. He he

    Trả lờiXóa
  37. gởi nặc danh 15h 04 phút,mi nói VNCH Không đủ sức đánh trung cộng là đúng,bởi gì VNCH nhỏ bé mà phải đương đầu cả khối cộng sản quốc tế bao nhiêu khí tài đạn dược đổ vào miền nam còn 30 sư đoàn cộng sản bắc việt bị lừa gạt sẳn sàng chết với chiến thuật thí quân biển người mà chiến thắng thuộc về chủ nghĩa cộng sản quốc tế,rỏ ràng hiện nay bao nhiêu bà mẹ mất con mà lại không có nhà ở,hoá phụ muốn xây mộ cho chồng nhưng chưa tìm được xác,nếu mi có giỏi hãy cùng QĐNDVN tiến ra chiếm lại HS_TS thì ta đây mới phục còn như đã bán cho trung cộng mà còn lừa dân thì tội tru di tam tộc,nhớ chưa đò thất học.

    Trả lờiXóa
  38. trang view của nặc danh 15h 04phút là trang view quân đội cộng sản VN,dân VN học thuộc bài rồi đừng có gạt vô ích.

    Trả lờiXóa
  39. thật tội nghiệp cho nhửng tên nón cối dép râu,con đừng buồn và khóc nữa bố di ngủ đây.

    Trả lờiXóa
  40. csvn coi “Công hàm bán nước 1958 của Phạm Văn Đồng” như một “bí mật quốc gia” và dấu kín như mèo dấu kít!và bây giờ cũng còn nhiều bí mật chỉ đợi TQ công bố nữa!!

    Trả lờiXóa
  41. gởi ND 15.04 ngày 2.1.12lúc 09:34 3 tháng 1, 2012

    Tôi không biết ngài là ai,bao nhiêu tuổi,đang sống trong nước hay hải ngoại.Nếu ngài có ăn học,biết đối chiếu và suy luận có lẽ ngài đã không sử dụng cứ liệu và áp đặt sự việc theo kiểu IQ cao của biểu đại Trần tiến Cảnh Hà nam.Chuyện đúng sai của MNVN,chuyện tc thôn tính HS,chuyện vgcs cướp được MNVN là những chuyện mà ai là dân VN đều quan tâm và ai cũng hiểu cả.Ngày nay,ý đồ thôn tính biển đông của tc và hiểm hoạ nguỵ quyền vgcs bán đứng tổ quốc để mưu cầu thiên thu trường trị thống nhất giang hồ của cs quốc tế là sự thật,nước đã đến chân,hảy bàn thế nào để vạch mặt bọn bán nước đồng thời cảnh tỉnh nhân dân ta.Đừng để nhân dân ta bị áp bức,nhất là thân phận 1 cổ 2 tròng.Vài lời,mong ông nếu là người Việt hãy vì sự tồn vong của giống nòi,đừng luận bàn những việc vô trách nhiệm để mọi người nguyền rủa.

    Trả lờiXóa
  42. Sự khéo léo của Công hàm 1958:
     
    Vào thời kỳ 1958, bề rộng lãnh hải của các nước tiếp giáp biển chưa thống nhất. Trước đó đa phần đều lấy bề rộng 3 hải lý tính từ đất liền. Cho đến năm 1958, một số nước đã tăng bề rộng lãnh hải lên 12 hải lý. Và Trung Quốc cũng tăng lên như thế trong Tuyên bố 1958. Điều này chẳng có gì đáng nói nếu như họ xác định đường cơ sở đúng như thông lệ quốc tế khi đó.
     
    Vào năm 1958, trong bối cảnh Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đang quan hệ với Trung Quốc, việc ra công hàm ủng hộ Tuyên bố 1958 của nước bạn Trung Quốc là không thể không làm. Khổ nổi tuyên bố của nước bạn quá ngạo ngược về cái “ranh đất không giống ai” đó. Như vậy thì công hàm phải viết thế nào đây?
     
    Nghiên cứu Tuyên bố 1958 của Trung Quốc chúng tôi thấy, tuyên bố đề cập đến 4 vấn đề như sau:
     
    Bề rộng lãnh hải là 12 hải lý tính từ đường cơ sở (đường căn bản).
    Kéo đường căn bản quàng lên các đảo thuộc và chưa thuộc chủ quyền của Trung Quốc tít ngoài khơi.
    Xác lập chủ quyền lãnh hải và không phận của Trung Quốc nêu trong Tuyên bố 1958.
    Nêu vấn đề Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác.
     
    Tuy nhiên, Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khéo léo công nhận chỉ 1 vấn đề là bề rộng lãnh hải 12 hải lý mà thôi. Công hàm viết: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển”.
     
    Công nhận hải phận 12 hải lý là phù hợp thông lệ quốc tế khi đó và phù hợp Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 về sau. Nhưng cũng chỉ là vấn đề hải phận 12 hải lý. Công hàm không hề nhắc đến 3 vấn đề còn lại. Chúng ta lưu ý, vấn đề thuộc luật pháp cần được hiểu, cái gì được nói ra thì chỉ là cái đó. Nếu như công hàm 1958 viết rõ: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ủng hộ toàn bộ nội dung của Tuyên bố…” thì mới bao hàm cả 4 vấn đề.
     
    Từ đó chúng tôi kết luận: Công hàm 1958 không thể là nguyên nhân dẫn đến các rắc rối về sau liên quan đến chủ quyền biển đảo giữa Việt Nam và nước bạn Trung Quốc. Việc nước bạn Trung Quốc có những tuyên bố thiếu phù hợp gần đây là do sự chủ động của họ.

    Trả lờiXóa
  43. Gui: NAC DANH (15,04,ngay 2 thang 1 nam 2012
    Bai viet cua BAN KHONG CHINH XAC
    VNCH KHONG CO Dang DAT Ban Bien cho trung quoc
    Ngay thoi diem ay,cong san vn Day Manh cuoc TAN CONG vao Mien Nam
    Nguoi MY van con o Thai Binh Duong (Ho biet se co chuyen ay)nhung HIEP DINH Da Ky,ho khong Lam Gi Duoc
    VNCH van Co Giu HOANG SA Nhung..Danh Chiu
    Vi Nieu DON LUC lay lai HOANG SA,thi se TAO Ra Ke Ho cho cong san vn tien vao Mien Nam
    Thu Do SAI GON va Hoang Sa: Cai Nao Quan Trong hon...???
    Nac Danh (15,04 ngay 2 thhang 1 nnam 2012) tra loi di
    Lich Su la phai noi :DUNG va DU (Khong noi vu vo hay Doc Lao)

    Trả lờiXóa
  44. Toàn bô phía tây quần đảo HS , đảo Ba Bình - TS đã bị TQ và Đài Loan chiếm từ năm 1956 . Và từ năm 1956 - 1974 là khoảng 20 năm , không thấy VNCH báo cáo cho quốc dân biết là sao ?
    Cũng không thấy VNCH có thái độ gì đối với sự chiếm đóng TS của Đài Loan và Philippin

    Trả lờiXóa
Mới hơn Cũ hơn