Âu Dương Thệ (DC&PT - Thời Sự 2012) - Từ 2-5. 2. 2012 Hội nghị về An ninh lần thứ 48 vừa diễn ra ở München, Đức. Đây là một diễn đàn thường niên về an ninh và đối ngoại quan trọng, tập hợp sự tham dự của các đại diện cấp cao của chính quyền nhiều nước, các chuyên gia quốc tế hàng đầu và tổ chức quốc tế. Lần này ngoài các bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng của nước chủ nhà còn có sự tham dự của nguyên thủ một số nước và bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng của Mĩ, Nga, Pháp, Úc, Tổng thư kí NATO... Riêng Trung quốc cử Thứ trưởng Ngoại giao Trương Chí Quân. Không thấy đại diện của Hà nội. Một trọng tâm trong kì Hội thảo này là biến động ở Trung đông nên nhiều bộ trưởng các nước Ả rập cũng đã tham dự. Ngoài những cuộc hội thảo khoa học, các hoạt động hành lang đa chiều trong Hội nghị được lưu ý đặc biệt, trong đó có những cuộc trao đổi không chính thức về các vấn đề các bên quan tâm.
Điều cần để ý là, mặc dầu vấn đề tranh chấp biển Đông không là đề tài thảo luận chính thức, nhưng bên trong và ngoài hội nghị vấn đề này trở thành một điểm nóng tranh cãi, đặc biệt từ khi TT Mĩ Obama đưa ra Chủ thuyết châu Á-Thái bình dương trong thời gần đây, theo đó Mĩ sẽ đặt ưu tiên cho chính sách đối ngoại an ninh ở châu Á.
Cũng đúng vào dịp Hội nghị về An ninh này tờ Süddeutsche Zeitung, một nhật báo lớn và có uy tín hàng đầu ở Đức, đã phổ biến hai bài của hai chuyên gia hàng đầu về đối ngoại và an ninh của Mĩ và Trung quốc (xem phần sau). Một sự tình cờ mang nhiều ý nghĩa nhưng không ngạc nhiên là, cả hai chuyên gia này đi từ quyền lợi quốc gia của mỗi nước, nhưng đều đi tới một nhận định chung là, vấn đề tranh chấp biển Đông đang trở thành điểm cực nóng trong bang giao Trung-Mĩ và châu Á-Thái bình dương và nó còn có thể kéo dài trong vài thập kỉ.
VN đang nằm lọt vào trung tâm tranh giành của Trung-Mĩ. Làm sao bảo vệ hữu hiệu quyền lợi chính đáng của VN? VN đứng ở đâu? Chọn lập trường nào? Đứng về phía nào? Đứng chung với ai? Những câu hỏi nóng bỏng và rất bức xúc này về phía đại đa số nhân dân đã có thái độ rất dứt khoát, nhưng trong khi ấy vẫn chưa thấy câu trả lời rõ ràng và dứt khoát từ phía đảng cầm quyền.
Để trả lời các câu hỏi trên thì phải biết rõ: Giữa Trung quốc và Hoa kì nước nào đang chiếm đóng nhiều đảo trên biển Đông của VN, ngăn cản VN thăm dò đầu khí và cấm đoán cũng như đối xử tàn ác với hàng ngàn ngư dân VN trong các năm qua?
Trong các cuộc thăm viếng của lãnh đạo hai nước, phía Trung quốc thường khuyên VN phải nghĩ đến “đại cục”, tức quyền lợi chung, để từ đó đánh lạc hướng đấu tranh và ngăn cản những đòi hỏi chính đáng của VN, đồng thời đe doạ VN không được chọn đồng minh thích hợp để có thể bảo vệ hữu hiệu quyền lợi đất nước. Nội hàm “đại cục” mà Bắc kinh muốn nói tới chính là hai nước cùng theo chế độ Cộng sản. Bắc kinh tìm cách thuyết phục và răn đe Hà nội là, hãy để họ “mượn” biển Đông để mở đường tiến xuống phía Nam và Hà nội sẽ được “trả lãi”! Nhưng thực ra đây chỉ là bề ngoài, vì từ lâu các chủ trương và chính sách của Bắc kinh chỉ nhắm mục đích duy nhất là quyền lợi quốc gia ích kỉ và cực đoan để thực hiện giấc mộng sớm trở thành siêu cường tân đế quốc trong Thế kỉ 21.
Cho nên ngôn ngữ đường mật của nhóm cầm đầu Bắc kinh hiện nay cũng giống như cách du thuyết của nhiều triều đại phong kiến Trung quốc trước đây. Dưới đời nhà Nguyên, chính Thoát Hoan năm 1283 đem 50 vạn quân sang đánh VN, nhưng lại giả vờ mượn đường qua VN để chiếm Chiêm thành. Nhưng khi ấy vua Trần Nhân Tông thông minh đã thấy ý đồ đen tối này nên dứt khoát từ chối và quyết dựa vào dân đánh thắng đoàn quân xâm lược.
Nhưng cho tới nay những người đứng đầu CSVN vẫn chưa dám có thái độ dứt khoát rõ ràng với Bắc kinh. Ngay cả chuyến thăm Trung quốc của Nguyễn Phú Trọng vào tháng 10 và chuyến đi Hà nội của Tập Cận Bình tháng 12. 2011 ngôn ngữ “đại cục” vẫn được Bắc kinh thuyết giảng và đe doạ! Chính vì thế, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã ra tuyên bố bốn không, trong đó không muốn quốc tế hoá biển Đông mà chỉ giải quyết song phương với Trung quốc. Còn Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đã cúi đầu tại Bắc kinh nhận chỉ thị cấm nhân dân VN, đi đầu là thanh niên và Trí thức, biểu tình chống các hành động xâm lấn ngang ngược của Trung quốc.
Trong khi ấy, những người có quyền lực ở Hà nội lại không đứng về phía nhân dân, mà lại đang chống lại nhân dân. Nhiều phụ nữ, thanh niên, trí thức yêu nước và cả những đảng viên tiến bộ biết tự trọng đứng lên tố cáo các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh đều bị đàn áp, thậm chí còn bị giam cầm!
Dưới đây là bản lược dịch hai bài của hai chuyên gia Mĩ và Trung quốc liên quan tới viễn tượng cuộc tranh chấp biển Đông trên tờ Süddeutsche Zeitung ngày 5.2.2012.
http://www.sueddeutsche.de/thema/M%C3%BCnchner_Sicherheitskonferenz
http://www.americanacademy.de/sites/default/files/upload/MSC%202012.pdf
Ghi chú: Các phần trong [….] là bổ túc của người dịch.
Mĩ có liên hệ lâu đời với châu Á. Nay Trung quốc (TQ) đang trỗi dậy, cho nên Mĩ tăng cường hoạt động ở đây và được nhiều nước trong khu vực hưởng ứng.
David Shambaugh - Nhiều bài bình luận trong thời gian gần đây đã chú tâm tới chiến lược của Mĩ ở Á châu, đặc biệt sau khi TT Obama đã thăm khu vực này vào tháng 11.2011 và công bố chiến lược quân sự mới và lâu dài [ở Á châu]. Đáng chú ý là, TQ đã không yên tâm và phản ứng lo ngại rằng, sự chiếu cố mới của Mĩ tới Á châu có thể nhằm mục tiêu ngăn cản sự trỗi dậy của TQ. Cùng lúc đó có một số đồng minh ở Âu châu trong Nato [Khối phòng thủ Bắc đại Tây dương] lo lắng cho rằng, sự chọn lựa ưu tiên mới của Mĩ là trên lưng của họ.
Đúng là Hoa kì đang tập trung ngoại giao, thương mại và an ninh ở Á châu và đang gia tăng phương tiện vào mục tiêu này. Chính phủ Obama là chính phủ đầu tiên đã xếp Á châu vào ưu tiên hàng đầu trong chính sách ngoại giao và an ninh toàn cầu [của Mĩ]. Đây là điều mới đối với Mĩ, vì từ trước tới nay Mĩ chỉ đặt trọng tâm lớn nhất vào quan hệ liên Đại tây dương [ý nói giữa Mĩ và Tây Âu] và Trung đông. Cũng đúng nữa là, chiến lược mới [ở Á châu] là cách trả lời cho việc tối tân hoá quân sự của TQ cũng như cách “ngoại giao kẻ cả” của Bắc kinh. Nhiều đồng minh của Mĩ và nhiều nước khác đang lo ngại về những yêu sách lãnh thổ rất vô lý của TQ ở biển phía Đông và biển Nam TQ [biển Đông] cũng như việc tăng cường tuần tra trên biển của TQ. Cho nên các quốc gia này chào đón các cố gắng của Wahington và cũng đòi hỏi một chính sách như vậy để quân bình chống lại thái độ tự cao của Bắc kinh.
Nhưng một sự thực là, chúng ta [Mĩ] đang chỉ chuyển dịch một phần chứ không toàn diện. Mĩ đã can dự sâu vào Á châu từ lâu –từ nhiều thập kỉ qua, hay đúng ra là từ nhiều thế kỉ. Ít nhất là từ thế kỉ 19 Mĩ đã là một cường quốc Thái bình dương và do yếu tố địa lí, chủng tộc và thương mại nên Hoa kì vẫn là quốc gia châu Á-Thái bình dương. Điều này được minh chứng qua ba lãnh vực chính về vai trò của Mĩ trong khu vực là kinh tế, ngoại giao và an ninh.
Từ lâu Á châu đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng nhất của Mĩ. Từ 1977 Á châu đã vượt qua Âu châu để trở thành bạn hàng thương mại quan trọng nhất của Mĩ. Hiện nay Mĩ đang giao thương với Á châu nhiều hơn gấp hai lần với Âu châu. TQ và Nhật là đối tác thương mại thứ hai và ba của Mĩ. Á châu cũng là thị trường xuất cảng lớn nhất của Mĩ, 10 trong số 20 nước tiêu thụ hàng Mĩ lớn nhất cũng nằm ở đây. Khoảng 1/3 ngoại thương của Mĩ là với Á châu. Năm 2010 tổng số xuất cảng của Mĩ trong khu vực Thái bình dương lên tới 320 tỉ USD. Riêng mức xuất cảng của TQ vào Mĩ trong 10 năm qua đã gia tăng 468%.
Mặt trái của việc này dĩ nhiên là việc thâm thủng mậu dịch rất lớn của Mĩ với khu vực –nhất là với TQ (273 tỉ USD trong năm 2010). Nhưng các quan hệ kinh tế và thương mại của Mĩ trong khu vực châu Á –Thái bình dương vẫn tiếp diễn sâu hơn. Các hiệp định tự do thương mại song phương và viễn tượng của Hiệp định đối tác xuyên Thái bình dương (TPP) sẽ ràng buộc Mĩ chặt chẽ hơn với các đối tác kinh tế trong khu vực.
Về vấn đề ngoại giao, như đã nói, chính phủ Obama đã đặt Á châu là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại. Từ khi cầm quyền chính phủ này đã tìm cách cải thiện liên hệ song phương với hầu hết các nước trong khu vực. Đại diện cấp cao của chính phủ Mĩ đã đi thăm nhiều nước mà từ lâu Mĩ đã sao nhãng, như Tân tây lan, Nam dương và Phi luật tân, trong đó kể cả Myanmar (Birma). Tại đây chính phủ Obama đã chuyển từ chính sách cô lập sang tiếp cận. Các cường quốc khu vực như Ấn độ và TQ cũng được chú ý ngoại giao nhiều hơn của Mĩ. Không có nước nào được chính phủ và xã hội Mĩ quan tâm như Cộng hoà Nhân dân TQ. Điều này phản ảnh là Mĩ và TQ mỗi năm có trên 60 cuộc đối thoại chính thức. Quan hệ toàn diện và sâu sắc cũng diễn ra ưu tiên với Ấn độ.
Chúng ta cũng còn thấy, Mĩ tăng cường liên hệ ngoại giao đa phương trong khu vực. Qua việc kí kết và tham gia các hiệp định thân hữu và hợp tác với Asean, nên nay Mĩ trở thành thành viên toàn vẹn trong các Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á của Asean. Các liên hệ cấp chính phủ và các cấp không chính thức của Washington với khu vực cũng gia tăng. Từ khi cầm quyền, TT Obama tới thăm khu vực này ít nhất mỗi năm một lần. Trong đó bao gồm chuyến tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á lần đầu tiên của một TT Mĩ, cũng như cuôc gặp các thủ lãnh Asean, việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Apec lần thứ 17 và các cuộc thăm cấp nhà nước tại Nhật, Nam Hàn, TQ, Úc, Nam dương, Singapor và Ấn độ. Bà ngoại trưởng H. Clinton đã chọn Á châu là nơi đi thăm nước ngoài đầu tiên cũng có nhiều ý nghĩa. Và từ 3 năm qua bà đã đi thăm cả chục lần các nước trong khu vực. Bà cũng tham dự hàng năm các Hội nghị Diễn đàn Khu vực-Asean. Các toà đại sứ Mĩ và các hoạt động ngoại giao trong khu vực cũng được tăng cường. Liên hệ tới việc đưa quân đội tới những nơi gần trung tâm nóng, Ngoại trưởng Clinton đã nói, sự gia tăng ngoại giao mới này bao gồm 6 yếu tố:
. Mở rộng bang giao song phương
. Đi sâu hơn trong hoạt động với các nước đang trội lên, kể cả TQ
. Gia tăng hợp tác trong các tổ chức khu vực và đa phương
. Tăng cường thương mại và đầu tư
. Xây dựng sự hiện diện quân sự rộng rãi
. Thúc đẩy dân chủ và nhân quyền
Lãnh vực an ninh là yếu tố then chốt thứ ba của việc Mĩ tham gia. Gìn giữ an ninh và ổn định ở khu vực là cơ sở nền tảng cho việc bảo vệ quyền lợi toàn diện của Mĩ tại khu vực trong kinh tế, văn hoá và chính trị. Đúng như Joseph Nye đã nhận xét thông minh: Sự đóng góp của Mĩ cho lợi ích chung về an ninh khu vực là “không khí”, nó giúp khu vực thở và phồn vinh.
Để thích ứng với những thách đố của khu vực và nắm bắt được một chuỗi các nhiệm vụ an ninh phức tạp cả quân sự lẫn phi quân sự đòi hỏi phải có phương tiện và cố gắng lớn. Mặc dầu ngân sách quốc phòng của Mĩ sẽ giảm đi trong các năm tới, nhưng chính phủ Washington đã cho biết, ngân sách dành cho khu vực châu Á-Thái bình dương sẽ không bị cắt giảm. Chính TT Obama đã nói rõ việc này trước Quốc hội Úc tháng 11 vừa qua.
Giữa khi đa số các nước trong khu vực chào đón việc mới hình thành một chính sách đối ngoại và chiến lược an ninh của Mĩ ở Á châu thì TQ tỏ vẻ nghi ngại và Bắc Hàn lẽ dĩ nhiên chống đối. Lào, Kampuchia, Myanmar và Bagladesch tỏ vẻ không quan tâm. Các nước khác ở Á châu bằng những cách diễn tả khác nhau đều tỏ vẻ đồng ý. Các nước nhỏ hơn cũng có thể hưởng lợi trong quyết định ưu tiên mới của Mĩ.
Sự quan ngại của Bắc Hàn phản ảnh sự bất an của chính nước này. Bình nhưỡng vẫn được để ngỏ việc bình thường hoá quan hệ với Mĩ và các nước trong khu vực, khi nào nó từ bỏ kế hoạch võ khí nguyên tử. Bắc Kinh không nên lo sợ sự điều chỉnh mới của Washington. Bắc Kinh nên chấp nhận sự mong muốn rộng rãi của khu vực muốn có sự hiện diện mạnh mẽ của Mĩ. Vì điều này xuất phát một phần chính từ sự quan ngại đối với TQ. TQ –chứ không phải Mĩ- phải thay đổi thái độ đối với khu vực bằng cách hướng tới hợp tác nhiều hơn.
David Shambaugh là Giáo sư về Bang giao Quốc tế và Giám đốc Chương trình chính trị của TQ tại Đại hoc George Washington
TQ vươn lên vì các trung tâm kinh tế ở ven biển mọc lên. Thái bình dương đột nhiên trở thành quan trọng về chiến lược. TQ chuyển từ một cường quốc đại lục thành cường quốc đại dương. Trong cuộc tranh chấp chung quan Nam hải [biển Đông] sẽ quyết định liệu TQ và Mĩ có tìm được quân bình chính trị để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực.
Wang Yiwei - Cho tới khi mở cửa kinh tế trước đây 30 năm TQ là một nước nông nghiệp. Các vùng cạnh biển trở thành động lực làm tăng trưởng và thay đổi cho một nền kinh tế hướng tới xuất khẩu. Trong toàn cảnh địa lí lịch sử này Thái bình dương đột nhiện trở thành cái cổng trước mới của TQ ra thế giới.
TQ từ một nước lục địa truyền thống trở thành một thành viên mới trong khu vực Thái bình dương. Mặc dầu các chuyến đi khám phá lớn của nhà hàng hải Zheng He vào thế kỉ 15 ở Tây Thái bình dương và Ấn độ dương, nhưng TQ không tạo được chuyển biến từ một cường quốc lục địa sang cường quốc đại dương. Khi đó Zheng He đã không thể thuyết phục những người đồng hương: “Nếu TQ muốn vươn lên thì không được thờ ơ với biển. Sự giầu có xuất xứ từ biển, cũng như sự hiểm nguy. Nếu các nước khác kiểm soát biển thì TQ sẽ rơi vào hiểm nguy.” Nhưng lời di chúc của Zhen He đã làm TQ hôm nay can đảm bắt đầu con đường trường kì đi vào thế giới.
Trong các năm qua một trật tự thương mại lấy TQ làm trung tâm đã thành hình ở khu vực châu Á-Thái bình dương, nhất là từ năm 2010 phương thức 10+1 bắt đầu có hiệu lực (Hiệp ước Tự do Thương mại giữa TQ và 10 nước Asean). Từ đó Mĩ tìm cách xuyên qua chiến lược mới về Á châu đẩy lùi ảnh hưởng của TQ. Mĩ muốn trở lại trật tự truyền thống đã có từ cuối Thế chiến Thứ 2 ở Thái bình dương: lấy Mĩ làm trung tâm. Hậu quả là: Tranh chấp ở Nam hải [biển Đông] gây hệ luỵ tới bang giao Trung-Mĩ. Cho tới nay mới chỉ thấy phần nổi của tảng băng, nhưng cuộc tranh cãi cũng đã trở thành trung tâm khủng hoảng thứ ba trong vùng Thái bình dương, bên cạnh các căng thẳng về Đài loan và bán đảo Triều tiên.
Lịch sử đã chỉ cho chúng ta biết, bang giao Trung-Mĩ là chìa khoá cho hoà bình ở Á châu-Thái bình dương. Việc này đòi hỏi điều kiện tín nhiệm lẫn nhau, nhưng việc này hiện chưa xuất hiện. Vì thế vấn đề hàng đầu là, siêu cường hiện nay và siêu cường tương lai [ý nói Mĩ và TQ] cần xuyên qua đối thoại để tạo sự tín cậy lẫn nhau hay cả đến đồng thuận chiến lược. Trong thời gian qua Apec (Asia-Pacific Economic Coorperation được thành lập năm 1989), CSCAP (Council of Security Coorperation in Asia Pacific được thành lập 1993), ARF (Asean Regional Forum được thành lập 1994) và các tổ chức khác đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng tín nhiệm giữa Mĩ và TQ. Tuy nhiên việc đối thoại song phương, trực tiếp về chiến lược giữa TQ và Mĩ để tìm cách giải quyết tất cả các vấn đề -trong đó kể cả vấn đề Nam hải [biển Đông ] thật cần thiết hơn lúc nào hết. Trong chiều hướng này, một khuôn khổ 10+2 (Asean+ TQ + Mĩ) hay phương hướng mở rộng Tổ chức Hợp tác Thượng hải (Shanghai Coorperation Organisation –SCO) cũng có thể giúp ích.
Vì TQ có nhiều khả năng trở thành cường quốc thế giới, cho nên Nam hải [biển Đông] về dài hạn có thể là ngòi nổ cho xung đột và tranh chấp địa lí chính trị giữa Mĩ và TQ. Nhưng khi còn là cường quốc khu vực, TQ cũng từng trải qua tranh chấp và cạnh tranh với Mĩ từ hơn nửa thế kỉ qua (nhất là vấn đề Đài loan). Để tránh rơi vào tương tự như trường hợp Đài loan, cuộc tranh chấp về Nam hải [biển Đông] cần phải sớm giải quyết. Trong đó điều cần thiết là phải tìm ra sự cân bằng giữa vị thế của TQ có nhu cầu là một nước mới nổi và luật hàng hải quốc tế; trong đó xác định quyền lợi của cộng đồng quốc tế, đặc biệt có lợi cho Mĩ. Chúng ta cần đạt tới một giải pháp lâu dài cho quan hệ Trung-Mĩ.
Nếu Mĩ bảo vệ cho tự do hàng hải trong khu vực thì trước hết là phục vụ cho chính quyền lợi của Mĩ. Như vậy TQ nên từ bỏ chiến lược không rõ ràng và thay vào đó nên xác định rõ quyền lợi và đòi hỏi của mình và bảo vệ nó. Để giải quyết cuộc tranh chấp thì các yếu tố lịch sử đối với Nam hải [biển Đông] cần được lưu ý đầy đủ và một sự cân bằng giữa lịch sử và thực tế là cần thiết.
Để giải quyết vấn nạn cho eo biển Malakka (một phần quan trọng nhiên liệu nhập khẩu của TQ được chuyển bằng đường biển Malakka) TQ sẽ xây dựng một lực lượng hàng hải thích hợp để tăng cường an ninh trên đường biển chiến lược này. Như vậy Mĩ chắc chắn sẽ coi việc tăng cường hạm đội [của TQ] là một thách đố về sự thống trị của Mĩ trong khu vực châu Á-Thái bình dương. Đúng vậy, với việc gia tăng sức mạnh hàng hải như thế thì TQ sẽ từ một cường quốc khu vực trở thành một cường quốc thế giới.
Mĩ và TQ từ nhiều năm qua đã tạo được cân bằng quyền lực trong vấn đề Đài loan, việc này cũng đang diễn ra trong cuộc tranh chấp tìm một quân bình liên quan tới vấn đề Nam hải [biển Đông]. Chuyên gia Mĩ về TQ Harry Harding đã từng nói, Mĩ không nên coi TQ là đồng minh hoặc đối thủ, nhưng nên coi TQ là “một đối trọng độc lập trong một quân bình quyền lực phức tạp.”
Trong tương lai, vào các thời điểm khác nhau và trong các vấn đề khác nhau TQ sẽ có những quyền lợi, trong đó có thể tương đồng với Mĩ nhưng cũng có thể đối lập với Mĩ. Cách giải quyết quyền lợi như thế nào sẽ ảnh hưởng lớn tới sự ổn định chiến lược trên thế giới kể từ giữa Thế kỉ 21. Vì thế, cuộc tranh chấp về Nam hải [biển Đông] sẽ là một thử thách cho việc phát triển chiến lược giữa Mĩ và TQ. TQ đã đưa ra những dấu hiệu rõ ràng về cách giải quyết trong việc này : Với việc kí kết “Tuyên bố về ứng xử của các bên về Nam hải [biển Đông]” giữa TQ và Asean vào tháng 11.2002, TQ đã đặt vấn đề Đài loan trở nên ít ưu tiên hơn. [Tuy nhiên, trong một hội nghị giữa Asean và TQ mới đây Bắc kinh đã vẫn từ chối thảo luận cách thức thực hiện thoả thuận năm 2002 vào thực tế như thế nào!]
Nhìn lại chúng ta có thể khẳng định rằng, vần đề Đài loan mới chỉ tạm lắng dịu từ khi TQ đạt ngang ngửa với Mĩ trong khả năng võ khí nguyên tử chiến lược. Từ một tranh chấp quân sự trước đây nay trở thành tranh chấp chính trị. Cuộc tranh chấp tiềm tàng đã trong vòng kiểm soát nhờ một số thoả thuận căn bản đã đạt được. Tương tự như vậy, cuộc tranh chấp ở Nam hải [biển Đông] sẽ chỉ được chuyển thành vấn đề chính trị, nếu tạo được sự quân bình quyền lực giữa TQ và Mĩ ở khu vực châu Á-Thái bình dương và có thể cả trên bình diện thế giới. Cho tới khi đó cuộc tranh chấp ở Nam hải [biển Đông] vẫn là một trung tâm nóng. Ở một mặt khác, các khó khăn trong vấn đề này có thể làm tăng cường thay vì phá huỷ quan hệ Trung-Mĩ.
Đằng sau vấn đề Nam hải [biển Đông], Trung quốc theo đuổi 4 quyền lợi chiến lược căn bản trong khu vực Thái bình dương:
Khu vực này là tập hợp điểm chiến lược của TQ để từ một nước lục địa tiến lên một nước đại dương, từ một văn minh lục địa tiến sang văn minh đại dương.
Khu vực này giúp chuyển đổi chính sách đối ngoại của TQ từ tập trung vào các nước lân bang sang mở rộng tham gia với tất cả các cường quốc.
Khu vực này trở thành một diễn đàn của TQ để nó cải thiện ngoại giao đa phương.
Khu vực này sẽ giúp TQ thiết lập nhận thức về Á châu và thế giới.
Với việc thay đổi bộ diện của TQ từ “TQ truyền thống” sang “TQ tân thời” rồi tới “TQ toàn cầu”, Cuộc tranh chấp Thái bình dương giữ 3 khả năng ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại của TQ:
Lịch sử sống động và sự ý thức thay đổi thường xuyên. Tính chính đáng của chính sách đối ngoại của TQ cần được hướng về tương lai, không hướng vào dĩ vãng.
Vấn đề an ninh rất quan trọng, nhưng các tranh chấp và tranh đua đóng một vai trò thứ yếu. Vì một cơ chế an ninh tập thể ở khu vực Thái bình dương khó thành lập được, cho nên TQ theo đuổi chính sách an ninh hổ tương và qua đó tìm cách bảo đảm hoà bình và an ninh cho tất cả các nước đối tác.
Hổ tương liên đới và các giao ước tự do thương mại thay thế cho ổn định và an ninh là quan tâm hàng đầu của chính sách đối ngoại của TQ nói chung và đặc biệt trong chính sách Thái bình dương. Nhưng trật tự hàng hải và chủ trương lập đối tác xuyên Thái bình dương của Mĩ là một thách đố đối với tâm lí an ninh của TQ và nó thúc đẩy TQ theo đuổi một chiến lược đối lại.
Wang Yiwei là Giám đốc Viện các Vấn đề Quan hệ Quốc tế tại Đại học Tongji, Thượng hải
*
Âu Dương Thệ
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử: www.dcpt.org hay www.dcvapt.net
Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam
Điều cần để ý là, mặc dầu vấn đề tranh chấp biển Đông không là đề tài thảo luận chính thức, nhưng bên trong và ngoài hội nghị vấn đề này trở thành một điểm nóng tranh cãi, đặc biệt từ khi TT Mĩ Obama đưa ra Chủ thuyết châu Á-Thái bình dương trong thời gần đây, theo đó Mĩ sẽ đặt ưu tiên cho chính sách đối ngoại an ninh ở châu Á.
Cũng đúng vào dịp Hội nghị về An ninh này tờ Süddeutsche Zeitung, một nhật báo lớn và có uy tín hàng đầu ở Đức, đã phổ biến hai bài của hai chuyên gia hàng đầu về đối ngoại và an ninh của Mĩ và Trung quốc (xem phần sau). Một sự tình cờ mang nhiều ý nghĩa nhưng không ngạc nhiên là, cả hai chuyên gia này đi từ quyền lợi quốc gia của mỗi nước, nhưng đều đi tới một nhận định chung là, vấn đề tranh chấp biển Đông đang trở thành điểm cực nóng trong bang giao Trung-Mĩ và châu Á-Thái bình dương và nó còn có thể kéo dài trong vài thập kỉ.
VN đang nằm lọt vào trung tâm tranh giành của Trung-Mĩ. Làm sao bảo vệ hữu hiệu quyền lợi chính đáng của VN? VN đứng ở đâu? Chọn lập trường nào? Đứng về phía nào? Đứng chung với ai? Những câu hỏi nóng bỏng và rất bức xúc này về phía đại đa số nhân dân đã có thái độ rất dứt khoát, nhưng trong khi ấy vẫn chưa thấy câu trả lời rõ ràng và dứt khoát từ phía đảng cầm quyền.
Để trả lời các câu hỏi trên thì phải biết rõ: Giữa Trung quốc và Hoa kì nước nào đang chiếm đóng nhiều đảo trên biển Đông của VN, ngăn cản VN thăm dò đầu khí và cấm đoán cũng như đối xử tàn ác với hàng ngàn ngư dân VN trong các năm qua?
Trong các cuộc thăm viếng của lãnh đạo hai nước, phía Trung quốc thường khuyên VN phải nghĩ đến “đại cục”, tức quyền lợi chung, để từ đó đánh lạc hướng đấu tranh và ngăn cản những đòi hỏi chính đáng của VN, đồng thời đe doạ VN không được chọn đồng minh thích hợp để có thể bảo vệ hữu hiệu quyền lợi đất nước. Nội hàm “đại cục” mà Bắc kinh muốn nói tới chính là hai nước cùng theo chế độ Cộng sản. Bắc kinh tìm cách thuyết phục và răn đe Hà nội là, hãy để họ “mượn” biển Đông để mở đường tiến xuống phía Nam và Hà nội sẽ được “trả lãi”! Nhưng thực ra đây chỉ là bề ngoài, vì từ lâu các chủ trương và chính sách của Bắc kinh chỉ nhắm mục đích duy nhất là quyền lợi quốc gia ích kỉ và cực đoan để thực hiện giấc mộng sớm trở thành siêu cường tân đế quốc trong Thế kỉ 21.
Cho nên ngôn ngữ đường mật của nhóm cầm đầu Bắc kinh hiện nay cũng giống như cách du thuyết của nhiều triều đại phong kiến Trung quốc trước đây. Dưới đời nhà Nguyên, chính Thoát Hoan năm 1283 đem 50 vạn quân sang đánh VN, nhưng lại giả vờ mượn đường qua VN để chiếm Chiêm thành. Nhưng khi ấy vua Trần Nhân Tông thông minh đã thấy ý đồ đen tối này nên dứt khoát từ chối và quyết dựa vào dân đánh thắng đoàn quân xâm lược.
Nhưng cho tới nay những người đứng đầu CSVN vẫn chưa dám có thái độ dứt khoát rõ ràng với Bắc kinh. Ngay cả chuyến thăm Trung quốc của Nguyễn Phú Trọng vào tháng 10 và chuyến đi Hà nội của Tập Cận Bình tháng 12. 2011 ngôn ngữ “đại cục” vẫn được Bắc kinh thuyết giảng và đe doạ! Chính vì thế, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã ra tuyên bố bốn không, trong đó không muốn quốc tế hoá biển Đông mà chỉ giải quyết song phương với Trung quốc. Còn Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đã cúi đầu tại Bắc kinh nhận chỉ thị cấm nhân dân VN, đi đầu là thanh niên và Trí thức, biểu tình chống các hành động xâm lấn ngang ngược của Trung quốc.
Trong khi ấy, những người có quyền lực ở Hà nội lại không đứng về phía nhân dân, mà lại đang chống lại nhân dân. Nhiều phụ nữ, thanh niên, trí thức yêu nước và cả những đảng viên tiến bộ biết tự trọng đứng lên tố cáo các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh đều bị đàn áp, thậm chí còn bị giam cầm!
Dưới đây là bản lược dịch hai bài của hai chuyên gia Mĩ và Trung quốc liên quan tới viễn tượng cuộc tranh chấp biển Đông trên tờ Süddeutsche Zeitung ngày 5.2.2012.
http://www.sueddeutsche.de/thema/M%C3%BCnchner_Sicherheitskonferenz
http://www.americanacademy.de/sites/default/files/upload/MSC%202012.pdf
Ghi chú: Các phần trong [….] là bổ túc của người dịch.
________________________________
Trở về lại sân sau
Mĩ có liên hệ lâu đời với châu Á. Nay Trung quốc (TQ) đang trỗi dậy, cho nên Mĩ tăng cường hoạt động ở đây và được nhiều nước trong khu vực hưởng ứng.
David Shambaugh - Nhiều bài bình luận trong thời gian gần đây đã chú tâm tới chiến lược của Mĩ ở Á châu, đặc biệt sau khi TT Obama đã thăm khu vực này vào tháng 11.2011 và công bố chiến lược quân sự mới và lâu dài [ở Á châu]. Đáng chú ý là, TQ đã không yên tâm và phản ứng lo ngại rằng, sự chiếu cố mới của Mĩ tới Á châu có thể nhằm mục tiêu ngăn cản sự trỗi dậy của TQ. Cùng lúc đó có một số đồng minh ở Âu châu trong Nato [Khối phòng thủ Bắc đại Tây dương] lo lắng cho rằng, sự chọn lựa ưu tiên mới của Mĩ là trên lưng của họ.
Đúng là Hoa kì đang tập trung ngoại giao, thương mại và an ninh ở Á châu và đang gia tăng phương tiện vào mục tiêu này. Chính phủ Obama là chính phủ đầu tiên đã xếp Á châu vào ưu tiên hàng đầu trong chính sách ngoại giao và an ninh toàn cầu [của Mĩ]. Đây là điều mới đối với Mĩ, vì từ trước tới nay Mĩ chỉ đặt trọng tâm lớn nhất vào quan hệ liên Đại tây dương [ý nói giữa Mĩ và Tây Âu] và Trung đông. Cũng đúng nữa là, chiến lược mới [ở Á châu] là cách trả lời cho việc tối tân hoá quân sự của TQ cũng như cách “ngoại giao kẻ cả” của Bắc kinh. Nhiều đồng minh của Mĩ và nhiều nước khác đang lo ngại về những yêu sách lãnh thổ rất vô lý của TQ ở biển phía Đông và biển Nam TQ [biển Đông] cũng như việc tăng cường tuần tra trên biển của TQ. Cho nên các quốc gia này chào đón các cố gắng của Wahington và cũng đòi hỏi một chính sách như vậy để quân bình chống lại thái độ tự cao của Bắc kinh.
Nhưng một sự thực là, chúng ta [Mĩ] đang chỉ chuyển dịch một phần chứ không toàn diện. Mĩ đã can dự sâu vào Á châu từ lâu –từ nhiều thập kỉ qua, hay đúng ra là từ nhiều thế kỉ. Ít nhất là từ thế kỉ 19 Mĩ đã là một cường quốc Thái bình dương và do yếu tố địa lí, chủng tộc và thương mại nên Hoa kì vẫn là quốc gia châu Á-Thái bình dương. Điều này được minh chứng qua ba lãnh vực chính về vai trò của Mĩ trong khu vực là kinh tế, ngoại giao và an ninh.
Từ lâu Á châu đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng nhất của Mĩ. Từ 1977 Á châu đã vượt qua Âu châu để trở thành bạn hàng thương mại quan trọng nhất của Mĩ. Hiện nay Mĩ đang giao thương với Á châu nhiều hơn gấp hai lần với Âu châu. TQ và Nhật là đối tác thương mại thứ hai và ba của Mĩ. Á châu cũng là thị trường xuất cảng lớn nhất của Mĩ, 10 trong số 20 nước tiêu thụ hàng Mĩ lớn nhất cũng nằm ở đây. Khoảng 1/3 ngoại thương của Mĩ là với Á châu. Năm 2010 tổng số xuất cảng của Mĩ trong khu vực Thái bình dương lên tới 320 tỉ USD. Riêng mức xuất cảng của TQ vào Mĩ trong 10 năm qua đã gia tăng 468%.
Mặt trái của việc này dĩ nhiên là việc thâm thủng mậu dịch rất lớn của Mĩ với khu vực –nhất là với TQ (273 tỉ USD trong năm 2010). Nhưng các quan hệ kinh tế và thương mại của Mĩ trong khu vực châu Á –Thái bình dương vẫn tiếp diễn sâu hơn. Các hiệp định tự do thương mại song phương và viễn tượng của Hiệp định đối tác xuyên Thái bình dương (TPP) sẽ ràng buộc Mĩ chặt chẽ hơn với các đối tác kinh tế trong khu vực.
Về vấn đề ngoại giao, như đã nói, chính phủ Obama đã đặt Á châu là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại. Từ khi cầm quyền chính phủ này đã tìm cách cải thiện liên hệ song phương với hầu hết các nước trong khu vực. Đại diện cấp cao của chính phủ Mĩ đã đi thăm nhiều nước mà từ lâu Mĩ đã sao nhãng, như Tân tây lan, Nam dương và Phi luật tân, trong đó kể cả Myanmar (Birma). Tại đây chính phủ Obama đã chuyển từ chính sách cô lập sang tiếp cận. Các cường quốc khu vực như Ấn độ và TQ cũng được chú ý ngoại giao nhiều hơn của Mĩ. Không có nước nào được chính phủ và xã hội Mĩ quan tâm như Cộng hoà Nhân dân TQ. Điều này phản ảnh là Mĩ và TQ mỗi năm có trên 60 cuộc đối thoại chính thức. Quan hệ toàn diện và sâu sắc cũng diễn ra ưu tiên với Ấn độ.
Chúng ta cũng còn thấy, Mĩ tăng cường liên hệ ngoại giao đa phương trong khu vực. Qua việc kí kết và tham gia các hiệp định thân hữu và hợp tác với Asean, nên nay Mĩ trở thành thành viên toàn vẹn trong các Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á của Asean. Các liên hệ cấp chính phủ và các cấp không chính thức của Washington với khu vực cũng gia tăng. Từ khi cầm quyền, TT Obama tới thăm khu vực này ít nhất mỗi năm một lần. Trong đó bao gồm chuyến tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á lần đầu tiên của một TT Mĩ, cũng như cuôc gặp các thủ lãnh Asean, việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Apec lần thứ 17 và các cuộc thăm cấp nhà nước tại Nhật, Nam Hàn, TQ, Úc, Nam dương, Singapor và Ấn độ. Bà ngoại trưởng H. Clinton đã chọn Á châu là nơi đi thăm nước ngoài đầu tiên cũng có nhiều ý nghĩa. Và từ 3 năm qua bà đã đi thăm cả chục lần các nước trong khu vực. Bà cũng tham dự hàng năm các Hội nghị Diễn đàn Khu vực-Asean. Các toà đại sứ Mĩ và các hoạt động ngoại giao trong khu vực cũng được tăng cường. Liên hệ tới việc đưa quân đội tới những nơi gần trung tâm nóng, Ngoại trưởng Clinton đã nói, sự gia tăng ngoại giao mới này bao gồm 6 yếu tố:
. Mở rộng bang giao song phương
. Đi sâu hơn trong hoạt động với các nước đang trội lên, kể cả TQ
. Gia tăng hợp tác trong các tổ chức khu vực và đa phương
. Tăng cường thương mại và đầu tư
. Xây dựng sự hiện diện quân sự rộng rãi
. Thúc đẩy dân chủ và nhân quyền
Lãnh vực an ninh là yếu tố then chốt thứ ba của việc Mĩ tham gia. Gìn giữ an ninh và ổn định ở khu vực là cơ sở nền tảng cho việc bảo vệ quyền lợi toàn diện của Mĩ tại khu vực trong kinh tế, văn hoá và chính trị. Đúng như Joseph Nye đã nhận xét thông minh: Sự đóng góp của Mĩ cho lợi ích chung về an ninh khu vực là “không khí”, nó giúp khu vực thở và phồn vinh.
Để thích ứng với những thách đố của khu vực và nắm bắt được một chuỗi các nhiệm vụ an ninh phức tạp cả quân sự lẫn phi quân sự đòi hỏi phải có phương tiện và cố gắng lớn. Mặc dầu ngân sách quốc phòng của Mĩ sẽ giảm đi trong các năm tới, nhưng chính phủ Washington đã cho biết, ngân sách dành cho khu vực châu Á-Thái bình dương sẽ không bị cắt giảm. Chính TT Obama đã nói rõ việc này trước Quốc hội Úc tháng 11 vừa qua.
Giữa khi đa số các nước trong khu vực chào đón việc mới hình thành một chính sách đối ngoại và chiến lược an ninh của Mĩ ở Á châu thì TQ tỏ vẻ nghi ngại và Bắc Hàn lẽ dĩ nhiên chống đối. Lào, Kampuchia, Myanmar và Bagladesch tỏ vẻ không quan tâm. Các nước khác ở Á châu bằng những cách diễn tả khác nhau đều tỏ vẻ đồng ý. Các nước nhỏ hơn cũng có thể hưởng lợi trong quyết định ưu tiên mới của Mĩ.
Sự quan ngại của Bắc Hàn phản ảnh sự bất an của chính nước này. Bình nhưỡng vẫn được để ngỏ việc bình thường hoá quan hệ với Mĩ và các nước trong khu vực, khi nào nó từ bỏ kế hoạch võ khí nguyên tử. Bắc Kinh không nên lo sợ sự điều chỉnh mới của Washington. Bắc Kinh nên chấp nhận sự mong muốn rộng rãi của khu vực muốn có sự hiện diện mạnh mẽ của Mĩ. Vì điều này xuất phát một phần chính từ sự quan ngại đối với TQ. TQ –chứ không phải Mĩ- phải thay đổi thái độ đối với khu vực bằng cách hướng tới hợp tác nhiều hơn.
David Shambaugh là Giáo sư về Bang giao Quốc tế và Giám đốc Chương trình chính trị của TQ tại Đại hoc George Washington
________________________
Cổng mở ra thế giới của Trung Quốc
TQ vươn lên vì các trung tâm kinh tế ở ven biển mọc lên. Thái bình dương đột nhiên trở thành quan trọng về chiến lược. TQ chuyển từ một cường quốc đại lục thành cường quốc đại dương. Trong cuộc tranh chấp chung quan Nam hải [biển Đông] sẽ quyết định liệu TQ và Mĩ có tìm được quân bình chính trị để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực.
Wang Yiwei - Cho tới khi mở cửa kinh tế trước đây 30 năm TQ là một nước nông nghiệp. Các vùng cạnh biển trở thành động lực làm tăng trưởng và thay đổi cho một nền kinh tế hướng tới xuất khẩu. Trong toàn cảnh địa lí lịch sử này Thái bình dương đột nhiện trở thành cái cổng trước mới của TQ ra thế giới.
TQ từ một nước lục địa truyền thống trở thành một thành viên mới trong khu vực Thái bình dương. Mặc dầu các chuyến đi khám phá lớn của nhà hàng hải Zheng He vào thế kỉ 15 ở Tây Thái bình dương và Ấn độ dương, nhưng TQ không tạo được chuyển biến từ một cường quốc lục địa sang cường quốc đại dương. Khi đó Zheng He đã không thể thuyết phục những người đồng hương: “Nếu TQ muốn vươn lên thì không được thờ ơ với biển. Sự giầu có xuất xứ từ biển, cũng như sự hiểm nguy. Nếu các nước khác kiểm soát biển thì TQ sẽ rơi vào hiểm nguy.” Nhưng lời di chúc của Zhen He đã làm TQ hôm nay can đảm bắt đầu con đường trường kì đi vào thế giới.
Trong các năm qua một trật tự thương mại lấy TQ làm trung tâm đã thành hình ở khu vực châu Á-Thái bình dương, nhất là từ năm 2010 phương thức 10+1 bắt đầu có hiệu lực (Hiệp ước Tự do Thương mại giữa TQ và 10 nước Asean). Từ đó Mĩ tìm cách xuyên qua chiến lược mới về Á châu đẩy lùi ảnh hưởng của TQ. Mĩ muốn trở lại trật tự truyền thống đã có từ cuối Thế chiến Thứ 2 ở Thái bình dương: lấy Mĩ làm trung tâm. Hậu quả là: Tranh chấp ở Nam hải [biển Đông] gây hệ luỵ tới bang giao Trung-Mĩ. Cho tới nay mới chỉ thấy phần nổi của tảng băng, nhưng cuộc tranh cãi cũng đã trở thành trung tâm khủng hoảng thứ ba trong vùng Thái bình dương, bên cạnh các căng thẳng về Đài loan và bán đảo Triều tiên.
Lịch sử đã chỉ cho chúng ta biết, bang giao Trung-Mĩ là chìa khoá cho hoà bình ở Á châu-Thái bình dương. Việc này đòi hỏi điều kiện tín nhiệm lẫn nhau, nhưng việc này hiện chưa xuất hiện. Vì thế vấn đề hàng đầu là, siêu cường hiện nay và siêu cường tương lai [ý nói Mĩ và TQ] cần xuyên qua đối thoại để tạo sự tín cậy lẫn nhau hay cả đến đồng thuận chiến lược. Trong thời gian qua Apec (Asia-Pacific Economic Coorperation được thành lập năm 1989), CSCAP (Council of Security Coorperation in Asia Pacific được thành lập 1993), ARF (Asean Regional Forum được thành lập 1994) và các tổ chức khác đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng tín nhiệm giữa Mĩ và TQ. Tuy nhiên việc đối thoại song phương, trực tiếp về chiến lược giữa TQ và Mĩ để tìm cách giải quyết tất cả các vấn đề -trong đó kể cả vấn đề Nam hải [biển Đông ] thật cần thiết hơn lúc nào hết. Trong chiều hướng này, một khuôn khổ 10+2 (Asean+ TQ + Mĩ) hay phương hướng mở rộng Tổ chức Hợp tác Thượng hải (Shanghai Coorperation Organisation –SCO) cũng có thể giúp ích.
Vì TQ có nhiều khả năng trở thành cường quốc thế giới, cho nên Nam hải [biển Đông] về dài hạn có thể là ngòi nổ cho xung đột và tranh chấp địa lí chính trị giữa Mĩ và TQ. Nhưng khi còn là cường quốc khu vực, TQ cũng từng trải qua tranh chấp và cạnh tranh với Mĩ từ hơn nửa thế kỉ qua (nhất là vấn đề Đài loan). Để tránh rơi vào tương tự như trường hợp Đài loan, cuộc tranh chấp về Nam hải [biển Đông] cần phải sớm giải quyết. Trong đó điều cần thiết là phải tìm ra sự cân bằng giữa vị thế của TQ có nhu cầu là một nước mới nổi và luật hàng hải quốc tế; trong đó xác định quyền lợi của cộng đồng quốc tế, đặc biệt có lợi cho Mĩ. Chúng ta cần đạt tới một giải pháp lâu dài cho quan hệ Trung-Mĩ.
Nếu Mĩ bảo vệ cho tự do hàng hải trong khu vực thì trước hết là phục vụ cho chính quyền lợi của Mĩ. Như vậy TQ nên từ bỏ chiến lược không rõ ràng và thay vào đó nên xác định rõ quyền lợi và đòi hỏi của mình và bảo vệ nó. Để giải quyết cuộc tranh chấp thì các yếu tố lịch sử đối với Nam hải [biển Đông] cần được lưu ý đầy đủ và một sự cân bằng giữa lịch sử và thực tế là cần thiết.
Để giải quyết vấn nạn cho eo biển Malakka (một phần quan trọng nhiên liệu nhập khẩu của TQ được chuyển bằng đường biển Malakka) TQ sẽ xây dựng một lực lượng hàng hải thích hợp để tăng cường an ninh trên đường biển chiến lược này. Như vậy Mĩ chắc chắn sẽ coi việc tăng cường hạm đội [của TQ] là một thách đố về sự thống trị của Mĩ trong khu vực châu Á-Thái bình dương. Đúng vậy, với việc gia tăng sức mạnh hàng hải như thế thì TQ sẽ từ một cường quốc khu vực trở thành một cường quốc thế giới.
Mĩ và TQ từ nhiều năm qua đã tạo được cân bằng quyền lực trong vấn đề Đài loan, việc này cũng đang diễn ra trong cuộc tranh chấp tìm một quân bình liên quan tới vấn đề Nam hải [biển Đông]. Chuyên gia Mĩ về TQ Harry Harding đã từng nói, Mĩ không nên coi TQ là đồng minh hoặc đối thủ, nhưng nên coi TQ là “một đối trọng độc lập trong một quân bình quyền lực phức tạp.”
Trong tương lai, vào các thời điểm khác nhau và trong các vấn đề khác nhau TQ sẽ có những quyền lợi, trong đó có thể tương đồng với Mĩ nhưng cũng có thể đối lập với Mĩ. Cách giải quyết quyền lợi như thế nào sẽ ảnh hưởng lớn tới sự ổn định chiến lược trên thế giới kể từ giữa Thế kỉ 21. Vì thế, cuộc tranh chấp về Nam hải [biển Đông] sẽ là một thử thách cho việc phát triển chiến lược giữa Mĩ và TQ. TQ đã đưa ra những dấu hiệu rõ ràng về cách giải quyết trong việc này : Với việc kí kết “Tuyên bố về ứng xử của các bên về Nam hải [biển Đông]” giữa TQ và Asean vào tháng 11.2002, TQ đã đặt vấn đề Đài loan trở nên ít ưu tiên hơn. [Tuy nhiên, trong một hội nghị giữa Asean và TQ mới đây Bắc kinh đã vẫn từ chối thảo luận cách thức thực hiện thoả thuận năm 2002 vào thực tế như thế nào!]
Nhìn lại chúng ta có thể khẳng định rằng, vần đề Đài loan mới chỉ tạm lắng dịu từ khi TQ đạt ngang ngửa với Mĩ trong khả năng võ khí nguyên tử chiến lược. Từ một tranh chấp quân sự trước đây nay trở thành tranh chấp chính trị. Cuộc tranh chấp tiềm tàng đã trong vòng kiểm soát nhờ một số thoả thuận căn bản đã đạt được. Tương tự như vậy, cuộc tranh chấp ở Nam hải [biển Đông] sẽ chỉ được chuyển thành vấn đề chính trị, nếu tạo được sự quân bình quyền lực giữa TQ và Mĩ ở khu vực châu Á-Thái bình dương và có thể cả trên bình diện thế giới. Cho tới khi đó cuộc tranh chấp ở Nam hải [biển Đông] vẫn là một trung tâm nóng. Ở một mặt khác, các khó khăn trong vấn đề này có thể làm tăng cường thay vì phá huỷ quan hệ Trung-Mĩ.
Đằng sau vấn đề Nam hải [biển Đông], Trung quốc theo đuổi 4 quyền lợi chiến lược căn bản trong khu vực Thái bình dương:
Khu vực này là tập hợp điểm chiến lược của TQ để từ một nước lục địa tiến lên một nước đại dương, từ một văn minh lục địa tiến sang văn minh đại dương.
Khu vực này giúp chuyển đổi chính sách đối ngoại của TQ từ tập trung vào các nước lân bang sang mở rộng tham gia với tất cả các cường quốc.
Khu vực này trở thành một diễn đàn của TQ để nó cải thiện ngoại giao đa phương.
Khu vực này sẽ giúp TQ thiết lập nhận thức về Á châu và thế giới.
Với việc thay đổi bộ diện của TQ từ “TQ truyền thống” sang “TQ tân thời” rồi tới “TQ toàn cầu”, Cuộc tranh chấp Thái bình dương giữ 3 khả năng ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại của TQ:
Lịch sử sống động và sự ý thức thay đổi thường xuyên. Tính chính đáng của chính sách đối ngoại của TQ cần được hướng về tương lai, không hướng vào dĩ vãng.
Vấn đề an ninh rất quan trọng, nhưng các tranh chấp và tranh đua đóng một vai trò thứ yếu. Vì một cơ chế an ninh tập thể ở khu vực Thái bình dương khó thành lập được, cho nên TQ theo đuổi chính sách an ninh hổ tương và qua đó tìm cách bảo đảm hoà bình và an ninh cho tất cả các nước đối tác.
Hổ tương liên đới và các giao ước tự do thương mại thay thế cho ổn định và an ninh là quan tâm hàng đầu của chính sách đối ngoại của TQ nói chung và đặc biệt trong chính sách Thái bình dương. Nhưng trật tự hàng hải và chủ trương lập đối tác xuyên Thái bình dương của Mĩ là một thách đố đối với tâm lí an ninh của TQ và nó thúc đẩy TQ theo đuổi một chiến lược đối lại.
Wang Yiwei là Giám đốc Viện các Vấn đề Quan hệ Quốc tế tại Đại học Tongji, Thượng hải
*
Âu Dương Thệ
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử: www.dcpt.org hay www.dcvapt.net
Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam

tham thì thâm và lầm thì mạt .taù vừa tham vưà lầm .nên chi lảnh đủ là điêù ắt có và đủ. sau đệ nhị thế chiến ,đến năm 1960 kinh tế thế giới đã đứng laị ,mỷđến VNchẳng qua cũng để giaỉ quyết nạn đoí.từ 45 đến 75 cả một chiều daì 30 năm ,người mỹ đã nhìn thấy toàn bộ á châu ,họ rút khoỉ VN , để một miếng mồi cho tàu cướp lấy ,đưa nanh vuốt ra cả á châu van xin mỷ trở laị , thay vì xua đuổi ,PHI LUẬT TÂN ,NHẬT ,VN ,BÂY GIỜ CÓ NƯỚC NAÒ MỞ MIỆNG ĐUỔI MỶ KHÔNG ?họ đã tính thế luì để tiến tới noí chuyện với tàu ở thế thượng phong .lúc nầy người mỹ đũ bằng cớ để buộc taù phaỉ rút lui .không những thế tàu phaỉ trả độc lâp8 cho tây tạng v.v... không ai tin rằng tàu ngoan ngoan0 nghje lời mỹ .do đó không tránh khoỉ đụng chạm .tuy nhiên không có ai muốn chiến tranh cả ,taù chiụ không nổi đương nhiên đục mấy anh láng giềng gần mà yếu .bởi vậy mỹ nó vừa bán súng vưà không hao tốn quân ,như chiến trường ở bắc phi cả ău châu và mỹ chỉ xử dụng oanh tạc cơ ,có thể ở á châu họ xử dụng hàng không mẩu hạm để yểm trợ .quân đội cuả những nước lân bang dư sức đánh với tàu .và taù bốn bề thọ địch ,trong thì nội chiến, nguy cơ đập thuỷ điện bị bắn bể .taù thua trong tuần đầu khai hoả .nước taù tan rả trong thời gian rất gần ở phiá trước .cộng sản VN không trước thì cũng không còn bao lâu nưả phản laị đãng cộng sản ,theo mẽo còn có đường sống ,còn không dân trả thù không tránh khoỉ đâu .nhất là mấy thằng ngu ở thôn ở xả ác cho nhiều vaò rồi chạy đi đâu?
Trả lờiXóaNhận xét này đã bị tác giả xóa.
Trả lờiXóaCó gì lạ không? Tất cả đều rất lạ khi nói đến chủ quyền đất nước, Tàu Lạ, Nước Lạ, Dân Lạ và nổi bật gần đây nhất là Cờ Lạ 6 Sao.
XóaTất cả những gì liên quan đến nước mẹ CHNDTQ đã được Đảng ta hỏi ý kiến trước khi quyết định. Đàn áp, bỏ tù người biểu tình, học viên Pháp luân Công, ngay cả cướp đất của nông dân củng là học theo chính sách nước mẹ TQ. Nếu Bộ Trưởng/Thứ Trường Ngoại Giao Việt Nam mà có mặt ở hội nghị mới chính là chuyện lạ trong khi đã có Trương Chí Quân làm đại diện.
VN với TQ là một, đại diện TQ (ông chủ) đi là quá đủ rồi
XóaSứ Thần Phạm Bình Minh sẽ qua nhận chỉ thị từ nước Mẹ TQ vĩ đại từ 13/2/2012 đến ngày 15/2/2012 sau khi thăm ba nước Asean là Thái Lan, Brunei và Malaysia từ ngày 6/2/2012 đến ngày 9/2/2012. Thăm 3 nước Asean chỉ có trong 4 ngày, thì làm được gì ngoài việc hello and goodbye, thế nhưng thăm nước Mẹ TQ quá vĩ đại nên phải cần đến 3 ngày 3 đêm. Đó không phải là để báo cáo, tường trình chi tiết tình hình dẹp biều tình, đánh đòn dân chủ theo chỉ thị từ nước Mẹ thì là gì?
XóaVăn hóa người điên
Trả lờiXóaThế gian rộng lớn vô cùng
Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên
Việt Nam mình chiếm ưu tiên
Từ khi có đảng khùng điên quá nhiều
Nhân dân không phải đặc điều
Không tin cứ hỏi tổng Phiêu biết liền
Ai điên lấy đất tổ tiên
Cấn cho Trung Quốc vì ghiềng "lá đa"
Ai điên đem biển đảo xa
Đổi trao súng đạn pháo nhà bắn dân
Ai điên từ bỏ nhân dân
Kết giao với giặc làm thân nô tài
Ai điên giữ mãi quan tài
Của người đã chết hình hài tanh hôi
Ai điên lấy núi lấy đồi
Lấy rừng lấy đất cống bồi ngoại ban
Ai điên tin 16 chữ vàng
Cọng thêm 4 tốt dối gian láng giềng
Ai điên ăn nói quàng xiên
"Nguyện" theo Trung Quốc xích xiềng dân ta
Ai điên kiên định nước nhà
Xã hội chủ nghỉa biến ta thành rồng
Ai điên tin Phạm Văn Đồng
Cùng đảng cọng sản một lòng vì dân
Ai điên? chắc hẳn nhân dân
Ngày nay đã rỏ chẳng cần chỉ danh.
dạo này lãnh đạo HÀ NỘI chúng tớ bận lắm , đang tập trung giải quyết cái vụ TIÊN LÃNG , vụ anh VƯƠN nổ súng hoa cải chống lại người thi hành công vụ , bùng nhùng quá khi nào sử lý xong thì mới đi HỌP được ,hẹn gặp các lãnh đạo các nước khác vào buổi khác nha . mong thứ lỗi cho , so dì à à sory .
XóaKhông phải mấy quả đã từng ném xuống VN như hòn đá nhỏ để lảnh đạo VN phải chấp hành lệnh.Loại mang theo trên chiếc máy bay nói trên đã từng làm thế giới kinh khiếp- Không chấp hành lệnh là không xong vơí họ.
Trả lờiXóaHiện nay Trung Quốc đang tiếp tục phá nước Miến Điện. Mới bắn phá !
Trả lờiXóaCứ để cho họ phá rối rồi phải ôm mối thù đi vào tiền kiếp!
Không một nước nào để cho họ ngang nhiên phá 1 nước đang trên đường xây dựng nền móng dân chủ và đang tiếp tục có nhiều cải cách.
Bài viết sai lỗi chính tả rồi :
Trả lờiXóachữ "Mỹ" chớ không phải "Mĩ"....làm người Việt thì phải viết đúng ngữ pháp tiếng Việt bởi vì...còn tiếng Việt thì còn người Việt.
Nếu bạn nào ủng hộ việc bọn VC đổi chữ "y" thành "i" thì hãy giải thích là bạn viết và đọc làm sao mấy chử sau đây :
THÚY----chẳng lẽ đọc là "THÚI"
THỦY----chẳng lẽ đọc là "THỦI"
TÚY----chẳng lẽ đọc là "TỦI"
TỦY SỐNG----chẳng lẽ đọc là "TỦI SỐNG" à ?
đề nghị DLB sau này khi đăng bài nào thì hãy kiểm tra ngữ pháp trước.
Sửa đổi cách viết tiếng Việt là do sáng kiến của bọn "đỉnh cao trí tuệ", đám Ba Đình dốt nát, muốn làm khác đi, nhưng sai trật quá nhiều .
XóaChữ i thì sửa thành chữ y như ca sĩ, bác sĩ thành ca sỹ, bác sỹ..
Chữ y thì thành ra i, như hợp lý, thành hợp lí v.v..Còn rất nhiều cách viết sai chữ Việt của bọn Việt Cộng mà bọn chúng cố tình nhồi nhét, dạy cho bọn trẻ ngày nay. Thật đáng buồn, bọn chúng bán nước cho Tàu, bán luôn cả văn hoá, truyền thống của người Việt..
Cái bọn Lê Chiêu Thống mới nầy, đảng siêu cướp CS VN đáng bị tội xử lăng trì !!
Thưa anh một người Việt Tỵ Nạn CS ; ngữ pháp tiếng Việt theo tiêu chuẩn nào ạ .Người ta không thể viết Thuý thành thuí vì đọc khác nhau nhưng tui không phải tuy thích viết Mỹ thành Mĩ vẫn đọc như nhau ai cấm cũng như yêu thành iêu .
XóaNếu sơ xuất nào đó theo tiêu chuẩn DLB mà xoá hẳn "Í KYẾN " của TUY í quên tui tôy sẽ tỵ nạn ở báo khác .
Trân trọng ,
SC Nnạn Tị Vyệt ngườy một .
Ngôn ngữ, chữ viết là một sự tiến hóa liên tục không ngừng, miễn sao nó đáp ứng đúng nhu cầu giao tiếp, Việt nam chúng ta chưa có một Viện hàn lâm ngôn ngữ nên xin miễn bình luận về đúng sai trong ngữ pháp, cốt sao đừng hiểu sai ý nghĩa muốn truyền đạt là được, do tiếng Việt (quốc ngữ) phát âm theo lối tượng hình lại viết theo lối tượng thanh(la tinh) nên còn nhiều điều phải bàn, các comments Dân làm báo cốt truyền đạt ý làm sao cho từ bình dân đến trí thức đều hiểu đúng ý truyền đạt là tốt rồi, còn về ngữ pháp, câu từ xin để khi đất nước xong chuyện ân oán với CS, chúng ta có một viện ngôn ngữ....lúc đó bàn đền cũng không muộn, xin các bạn đừng vì một vài lỗi ngữ pháp tiếng Việt làm mất đi mục đích của chúng ta
XóaCòn việc viết tiếng việt phải bỏ đấu thì xin đồng ý, vì viết tiếng việt mà không có dấu không thể đọc được.
Thưa anh @một người Việt ỵ Lạn CS,đây có phải nà trang mạng DÂN LÀM BÁO(DLB)hay là Dân Nàm Báo hay là Dân Làm Náo hoặc Dân Viết Náo...!!!???hai nà"byết rồy khổ nắm lóy mãy"...
XóaCác Anh(Chị)lên trang mạng DLB nên Lưu Ý :
- Những phản hồi sử dụng "Nặc danh/Ẩn danh"sẽ không được xuất hiện. Các bạn có thể chọn một nickname cho mình khi phản hồi bằng cách sử dụng các chức năng : "Tên/Url", hoặc bằng tài khoản Google
- Nếu nội dung phản hồi quá dài sẽ bị máy chủ BlogSpot hiểu lầm là Spam (không cho hiện lên), xin bạn vui lòng chia nội dung thành nhiều phần, hoặc chờ Dân Làm Báo cho xuất hiện lại phản hồi
- Những phản hồi chữ Việt không dấu cũng sẽ bị xóa.
VÀ ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ CỘNG SẢN NÓI-MÀ HÃY ĐỂ Ý CS NÓI GÌ,VIẾT GÌ CŨNG CHẲNG QUA LÀ"CÂU GIỜ"(MUA THỜI GIAN)ĐỂ THOÁT KHỎI PHẢI CHUI CỐNG RÃNH NHƯ GÀ ĐÁ PHI Ở LYBIA MÀ THÔI!!!
Noí rõ ra là làm thay đổi từ tính.
Trả lờiXóaTÓM LƯỢC bài của hai chuyên gia Mĩ và Trung quốc liên quan tới viễn tượng cuộc tranh chấp biển Đông trên tờ Süddeutsche Zeitung ngày 5.2.2012.
Trả lờiXóa1)-Để tránh rơi vào tương tự như trường hợp Đài loan, cuộc tranh chấp về Nam hải [biển Đông] cần phải sớm giải quyết.
2)- Nếu Mĩ bảo vệ cho tự do hàng hải trong khu vực thì trước hết là phục vụ cho chính quyền lợi của Mĩ.
3)- Để giải quyết cuộc tranh chấp thì các yếu tố lịch sử đối với Nam hải [biển Đông] cần được lưu ý đầy đủ và một sự cân bằng giữa lịch sử và thực tế là cần thiết.
4)- Để giải quyết vấn nạn cho eo biển Malakka (một phần quan trọng nhiên liệu nhập khẩu của TQ được chuyển bằng đường biển Malakka) TQ sẽ xây dựng một lực lượng hàng hải thích hợp để tăng cường an ninh trên đường biển chiến lược này. Như vậy Mĩ chắc chắn sẽ coi việc tăng cường hạm đội [của TQ] là một thách đố về sự thống trị của Mĩ trong khu vực châu Á-Thái bình dương. Đúng vậy, với việc gia tăng sức mạnh hàng hải như thế thì TQ sẽ từ một cường quốc khu vực trở thành một cường quốc thế giới.
5)- vần đề Đài loan mới chỉ tạm lắng dịu từ khi TQ đạt ngang ngửa với Mĩ trong khả năng võ khí nguyên tử chiến lược. Từ một tranh chấp quân sự trước đây nay trở thành tranh chấp chính trị.
6) VN đang nằm lọt vào trung tâm tranh giành của Trung-Mĩ. Làm sao bảo vệ hữu hiệu quyền lợi chính đáng của VN? VN đứng ở đâu? Chọn lập trường nào? Đứng về phía nào? Đứng chung với ai? Những câu hỏi nóng bỏng và rất bức xúc này về phía đại đa số nhân dân đã có thái độ rất dứt khoát, nhưng trong khi ấy vẫn chưa thấy câu trả lời rõ ràng và dứt khoát từ phía đảng cầm quyền.
Để trả lời các câu hỏi trên thì phải biết rõ: Giữa Trung quốc và Hoa kì nước nào đang chiếm đóng nhiều đảo trên biển Đông của VN, ngăn cản VN thăm dò đầu khí và cấm đoán cũng như đối xử tàn ác với hàng ngàn ngư dân VN trong các năm qua?
Trong các cuộc thăm viếng của lãnh đạo hai nước, phía Trung quốc thường khuyên VN phải nghĩ đến “đại cục”, tức quyền lợi chung, để từ đó đánh lạc hướng đấu tranh và ngăn cản những đòi hỏi chính đáng của VN, đồng thời đe doạ VN không được chọn đồng minh thích hợp để có thể bảo vệ hữu hiệu quyền lợi đất nước. Nội hàm “đại cục” mà Bắc kinh muốn nói tới chính là hai nước cùng theo chế độ Cộng sản. Bắc kinh tìm cách thuyết phục và răn đe Hà nội là, hãy để họ “mượn” biển Đông để mở đường tiến xuống phía Nam và Hà nội sẽ được “trả lãi”! Nhưng thực ra đây chỉ là bề ngoài, vì từ lâu các chủ trương và chính sách của Bắc kinh chỉ nhắm mục đích duy nhất là quyền lợi quốc gia ích kỉ và cực đoan để thực hiện giấc mộng sớm trở thành siêu cường tân đế quốc trong Thế kỉ 21.
Và cũng giống như cách du thuyết của nhiều triều đại phong kiến Trung quốc trước đây. Dưới đời nhà Nguyên, chính Thoát Hoan năm 1283 đem 50 vạn quân sang đánh VN, nhưng lại giả vờ mượn đường qua VN để chiếm Chiêm thành. Nhưng khi ấy vua Trần Nhân Tông thông minh đã thấy ý đồ đen tối này nên dứt khoát từ chối quyết dựa vào dân đánh thắng đoàn quân xâm lược.
Nhưng cho tới nay những người đứng đầu CSVN vẫn chưa dám có thái độ dứt khoát rõ ràng với Bắc kinh. Ngay cả chuyến thăm Trung quốc của Nguyễn Phú Trọng vào tháng 10 và chuyến đi Hà nội của Tập Cận Bình tháng 12. 2011 ngôn ngữ “đại cục” vẫn được Bắc kinh thuyết giảng và đe doạ! Chính vì thế, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã ra tuyên bố bốn không, trong đó không muốn quốc tế hoá biển Đông mà chỉ giải quyết song phương với Trung quốc. Còn Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đã cúi đầu tại Bắc kinh nhận chỉ thị cấm nhân dân VN, đi đầu là thanh niên và Trí thức, biểu tình chống các hành động xâm lấn ngang ngược của Trung quốc.
Trong khi ấy, những người có quyền lực ở Hà nội lại không đứng về phía nhân dân, mà lại đang chống lại nhân dân. Nhiều phụ nữ, thanh niên, trí thức yêu nước và cả những đảng viên tiến bộ biết tự trọng đứng lên tố cáo các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh đều bị đàn áp, thậm chí còn bị giam cầm!
VẬY THÌ:
Xóaở(1)giải quyết bằng cách nào?-Tại sao không để cho Đàiloan sát nhập vào TQ như Hồng công?-để thể theo nguyện vọng cũ mà CSTQ"không muốn ĐL tuyên bố độc lâp vì sợ các DT Mông, Mãn,Tạng...cũng đòi ly khai như ở Liên xô 1990 hay sợ ĐL có chân trong Liên Hơp Quốc...là phản kháng lại CQCSTQ".Hay HK im lặng cũng như đồng ý?-Vậy HK phải có thái độ dứt khoát với TQ trong hồ sơ ĐL một là ĐL tuyên bố"độc lập"cho các DT khác trong đó có cả DT VN noi theo như từ ĐCS-XHCN...-hai là cho ĐL sát nhập trở lai TQ và đây cũng là cú"song hoàn cước"khiến CSTQ thêm phần rối trí trong giải quyết nội bộ(như ở HK vừa qua phản đối...)lúc đó mặc sức HK"tát"CSTQ về hồ sơ Nhân quyền ở TQ,VN,Miến điện...hay đưa ra vấn đề "TD hàng hải QT trên Biển Đông"...
Ở(2)Là lời khuyên TQ nên từ bỏ chiến lược không rõ ràng và thay vào đó nên xác định rõ quyền lợi và đòi hỏi của mình và bảo vệ nó- chỉ là chung chung mơ mơ hồ hồ mà thôi...
Ở(3)cũng lại chỉ khuyên"TQ nên cân bằng giữa lịch sử và thực tế là cần thiết".-Cái này đã được đem ra bàn thảo trong HN Asian tại Philipin 2011 kết quả cũng"khả quan"và một phần có lợi cho HK triển khai TPP hay sự hiện diện Quân đội hay giúp Phi...củng cố an ninh QP trên BĐ nhằm đối trọng với TQ. Tuy nhiên vẫn chưa có Luật pháp QTế nào để buộc tội CSTQ trên HS BĐ cho cái đầu của CSTQ thêm nặng nề...và cho CSVN hay Phi...có cái cớ để bảo vệ hay đòi chủ quyền...hay thức tỉnh LHQ và EU chuyển trọng tâm Nghị sự vào HS Biển đông!!!???...
VẬY THÌ:
Xóaở(1)giải quyết bằng cách nào?
-Tại sao không để cho Đàiloan sát nhập vào TQ như Hồng công? thể theo nguyện vọng cũ mà CSTQ"không muốn Đàiloan tuyên bố độc lâp vì sợ các Dân tộc khác như : Mông, Mãn,Tạng...cũng đòi ly khai như ở Liên xô 1990 hay sợ Đàiloan có chân trong Liên Hơp Quốc...là phản kháng lại CQCSTQ".Hoặc Mỹ im lặng cũng như là đồng ý Đàiloan vẫn là 1"Tỉnh của TQ thống nhất"...?
-Vậy HK phải có thái độ dứt khoát với CSTQ trong hồ sơ Đàiloan một là:Đàiloan tuyên bố"độc lập"cho các DT khác trong đó có cả DT VN noi theo như từ bỏ ĐCS-XHCN kiểu Mao...-hai là:cho ĐL sát nhập trở lai TQ(như lời đề nghị lâu nay) và đây cũng là cú"song hoàn cước"khiến CSTQ thêm phần rối trí trong giải quyết nội bộ(như ở Hồngcông vừa qua có rất nhiều Tổ chức vẫn lên tiếng phản đối một số chính sách của CSTQ...)lúc đó mặc sức Mỹ-EU"tát"CSTQ về hồ sơ Nhân quyền ở TQ,VN,Miến điện...hay đưa ra vấn đề "Tự do hàng hải QTế trên Biển Đông"...nghĩa là đi vòng vòng quanh quanh"dương đông kích tây-Tương kế tựu kế"vừa cho CSTQ bị chóng mặt và vừa tránh đối đầu quân sự với Bắc Triều tiên Kim jống Ủn và cũng cản bớt ý đồ CSTQ hùa theo CSNga trong hồ sơ Qtế ở Syria hay Iran...
Ở(2)Là lời khuyên TQ nên từ bỏ chiến lược không rõ ràng và thay vào đó nên xác định rõ quyền lợi và đòi hỏi của mình và bảo vệ nó- chỉ là chung chung mơ mơ hồ hồ mà thôi...và đối với CS nói chung và CSTQ nói riêng phải bằng hành động hay lời nói cụ thể mới được...
Ở(3)cũng lại chỉ khuyên"TQ nên cân bằng giữa lịch sử và thực tế là cần thiết".-Cái này đã được đem ra bàn thảo trong HN Asian tại Philipin 2011 kết quả cũng"khả quan"và một phần có lợi cho HK triển khai TPP hay sự hiện diện Quân đội hay giúp Phi...củng cố an ninh QP trên BiểnĐông nhằm đối trọng với CSTQ. Tuy nhiên vẫn chưa có Luật pháp QTế nào để buộc tội CSTQ trên HS BĐ cho cái đầu của CSTQ thêm nặng nề...và cho CSVN hay Phi...có cái cớ để bảo vệ hay đòi chủ quyền...hay thức tỉnh LHQ và EU chuyển trọng tâm Nghị sự vào HS Biển đông!!!???...
4)- “Để giải quyết vấn nạn cho eo biển Malakka”Mỹ ,EU hay LHQ phải triển khai lưc lượng"gìn giữ Hòa bình Qtế ngăn chặn Hải tặc hay kiểm soát chặt chẽ 2 chiều vận chuyển hàng Hải của TC xem có “hàng độc,nhái.nguy hiểm...”(như: Ma túy,tài trợ Khủng bố,vũ khí Nguyên tử ,Hóa học hay ngăn chặn âm mưu gây Chiếntranh Thế giới thứ 3…của TC có liên hệ với NgC...)
XóaSAO BỌN CHÓP BU VIỆT CỘNG NGU HÈN ĐẾN THẾ ?
Trả lờiXóaThế giới đã thấy rõ Trung Quốc chính là mối đe dọa an ninh thế giới. Đặc biệt tại Biển Đông, Trung Quốc đã lộ rõ là kẻ cướp khi ngang nhiên vẽ đường lưỡi bò, cướp biển đảo, bắn giết ngư dân, và xâm phạm chủ quyền lãnh hải các nước láng giềng mà Việt Nam phải chịu thiệt hại nặng nề nhất.
Ngoại trừ VN, tất cả các nước lớn, nhỏ trong khu vực như Đại Hàn, Nhật, Philippines, Đài Loan, Brunei, Singapore...đều đoàn kết với Hoa Kỳ để chống lại thằng cướp Trung Quốc.
Cứ mỗi lần đọc bài về tranh chấp Biển Đông, tôi lại thấy tức giận vì bọn chóp bu Việt Cộng quá ngu muội. Người bình dân cũng thấy đâu là giặc và đâu là thế có thể liên minh chống giặc. Việc VC dùng cờ Trung Quốc 6 sao để đón Tập Cận Bình và hứa "hợp tác toàn diện" với giặc Tầu, người dân đã thấy rõ nguy cơ mất nước vì "hợp tác toàn diện" là lời hứa xin làm nô lệ cho giặc.
Mới đây, VC không cử đại diện tham dự Hội nghị về An ninh lần thứ 48 tại Đức, và không tham gia tập trận cùng liên minh các nước trong vùng Biển Đông thì tương lai VN càng thêm đen tối vì VC đã bị Trung Cộng khống chế hoàn toàn, không cho tham dự.
Nếu các tướng lãnh trong bộ đội không cùng toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng thì VN có thể bị xóa tên trên bản đồ thế giới.
1973 là năm thất bại thảm hại của Dân tộc VN khi Mỹ(TT Nícson)đã quay lưng lại(bỏ rơi)VNCH và "đi đêm" với Trung Cộng Mao.Còn ở bán đảo Triều Tiên thì khác, Mỹ vẫn giữ y nguyên Hiệp ước"hòa bình"2 miền Nam Bắc từ những năm 6o và BTT thì trở thành"Con bài"của TC chuyên dùng ph/triển v/khí Hạch tâm giống Iran hù dọa Mỹ...và ngược lại Nam TT"mặc kệ nó"vẫn lo ph/triển KT hay QS Qu/phòng...Trong khi cuộc chiến ở VN thực chất là "Huynh Đệ tương tàn"hay nói cách khác là"Nội chiến-Nồi da sáo thịt"...Bắc Việt được Trung Cộng và Xô Cộng can dự đốc xúi và nhiệt tình giúp đỡ từ A tới Z...(nhằm nhiều mục đích khác nhau trong đó"nặng mùi"nhất là có âm mưu bành chướng của TCMao...)còn ở Nam Việt thì là Mỹ giúp VNCH nhưng có nhiều chiến lược sai lầm và chỉ dùng sức mạnh Qu/sự hay "lấy oán trả oán...làm chủ chiến không những làm mất lòng Dân BắcVCS(nhất là rải thảm 1972 muốn BắcVCS"trở lại thời kỳ đồ đá")mà còn tăng thêm sức mạnh"ý chí sắt đá"...kháng Mỹ-VNCH cũng như thiếu sự ủng hộ của cộng đồng Qu/tế...dẫn tới "biến cố 30-4-1975"thành cuộc tháo chạy vượt Biển...với nhà tù cải tạo mọc lên như nấm hay"đánh Tư sản Mại Bản"...khiến Kinh tế VN đã kiệt lại càng kiệt thêm...và cuối cùng Cộng sản VN từ Bắc chí Nam trở thành tay sai đắc lực cho CSTQ...
XóaVà nay Mỹ(TT Obama)thì có chủ trương khác(s/dụng "quyền lực Mềm"là chính)khi tuyên bố quay lại Châu á TBD và kết nạp VN vào TPP chủ yếu là cứu vớt VN ra khỏi"vũng lầy"dưới sự bành chướng xâm lược chèn ép bắt nạt...DTVN của cầm quyền Cộng sản TQMao...
TC rất hay dùng chiến thuật"ném đá dấu tay"hay "bỏ của+địa thế"dỏm"chạy lấy người"và giữ lấy của tốt địa chánh trị tốt...Và nay tại sao TC lại khi không dễ dàng quá mức trong hồ sơ Miến điện và hầu như không có phản ứng gì kể cả Miến chông lệnh xây dựng đập thủy điện do TQ trúng thầu...Từ tiến hành cải cách Dân chủ tới bầu cử tự do đa nguyên đa đảng,thả hết tù nhân chánh trị...phải chăng để nhử HK-EU bị xa lầy vào khu vực"sân sau(hậu môn)của TC giống như ở Ápganistan???Và rồi đổi lấy sư bình yên ở "sân trước"cạnh đường lưỡi Bò trong đó có VN và Bắc Triều tiên mà VN vẫn là tầm quạn trọng chiến lược nhất trên "bàn cờ địa chính trị"vì đây coi như là quê hương thứ 2 của chúng với thềm lục địa có nhiều trữ lượng dầu mỏ cần thiết trong"cơn khát dầu"hay phát triển công nghiêp,vươn ra Thế giới qua Eo biển Malaska...kể từ khi rối loạn do cách mạng Hoa lài-Mùa Xuân Ả rập...ở Trung đông hay Bắc phi mà TC phải thaó chạy liên tiếp...Và nay HK quay lại Châu á TBD hay phát triển TPP...hay tham gia CCDC ở Miến điện cũng đều"gây sốc"và là thế bao vây TC trên nhiều lãnh vực và nay với tin mới nhất: THế GIớI,Thứ Bảy, 11/02/2012, 08:24 (GMT+7)
Trả lờiXóa"Quan chức Tây Tạng chuẩn bị cho một cuộc chiến"
TT - Ngày 10-2, Thời báo Hoàn Cầu đăng bài xã luận với nhan đề “Quan chức Tây Tạng chuẩn bị cho một cuộc chiến” để đối phó với “một cuộc chiến quyết định” của lực lượng ly khai ở Tây Tạng.
Cảnh sát Trung Quốc tuần tra trên đường phố Lhasa, Tây Tạng - Ảnh: Global Times
Tờ báo này viết chính quyền khu tự trị Tây Tạng đã được lệnh phải sẵn sàng cho một “cuộc chiến tranh chống lại chủ nghĩa ly khai” và phải nhận thức “tình hình nghiêm trọng”, đặc biệt là trước thềm Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18.
Đây là thời cơ rửa hận của DT Tây tạng qua bao nhiêu năm chung sống với Dân tộc”Thượng phong”Hán tặc .Không chịu nổi sự đàn áp hay Hán hóa …và lân này họ sẽ không biểu tình bạo loạn hay tự thiêu như trươc nũa mà nguy cơ dùng võ lực để “trả đũa”mà tệ hại nhất khi mà TC đang chuẩn bị hay đang ĐH ĐCSTQ lần thứ 18 ???