Số phận Nicolas Maduro và viễn ảnh Venezuala


Một căn bệnh không thuốc nào chữa mà những kẻ độc tài đều mắc phải là mê quyền lực.  Ngoại trừ một số chết già vì điều kiện cách mạng dân chủ tại quốc gia họ cai trị chưa đến điểm chín muồi, một phần không nhỏ đã chết một cách thê thảm bằng những cực hình mà họ chưa bao giờ tưởng tượng ra khi còn nắm quyền sinh sát. 

Nicolas Maduro học thuộc những kết liễu thê thảm của Muammar Gaddafi, Saddam Hussein, Ali Abdullah Saleh, Nicolae Ceausescu và nhiều người khác. 

Nicolas Maduro học thuộc bài học Grenada 1983 dưới thời TT Ronald Reagan dẫn tới sự sụp đổ của chế độc tài Marxist Bernard Coard.

Nicolas Maduro học thuộc bài học Panama dưới thời TT George H. W. Bush 1990 dẫn tới việc bắt giữ tướng Manuel Noriega. Noriega nguyên là một đồng minh với Mỹ bị kết án 40 năm tù, sau đó được giảm xuống 30 năm, về tội buôn bán ma túy.  Ông qua đời tại Panama City năm 2017 ở tuổi 83.

Học thuộc là một chuyện nhưng chữa khỏi bệnh mê quyền lực đã ăn sâu vào trong xương tủy là chuyện khác. Vi trùng quyền lực bám lấy Maduro cho đến giờ phút cuối cùng. 

Nicolas Maduro có nhiều cơ hội bước xuống một cách hợp hiến, hợp pháp và rời Venezuela để sống một cách bình yên, nhàn hạ với vợ và con ở một quốc gia chấp nhận ông như Qatar chẳng hạn. 

Mỹ tấn công Venezuela nhằm loại bỏ Nicolas Maduro cũng không phải bất ngờ. Theo Reuters, đàm phán cho một sự rút lui của Nicolas Maduro kéo dài nhiều tháng trước. Việc đánh chìm các tàu bè “chở ma túy” trong vịnh Caribbean là những cảnh cáo cho Maduro biết một hành động quân sự quy mô hơn nhắm vào ông ta, sau khi không phận Venezuela bị đóng, sẽ xảy ra và vừa xảy ra. 

Maduro, 63 tuổi, từ một tài xế xe bus,  chưa học hết bậc trung học, đã thăng tiến nhanh chóng nhờ sự nâng đỡ của nhà độc tài Hugo Chavez qua nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Quốc Hội, Bộ trưởng Ngoại Giao, Phó Tổng thống, và cuối cùng là Tổng thống Venezuela.  Khi chiếm được quyền lực, Maduro cai trị bằng sắc lệnh một hình thức độc tài do chính đảng Xã Hội Chủ Nghĩa Đoàn Kết Venezuela (United Socialist Party of Venezuela) do ông ta lập ra và tự trao quyền.

Cuộc bầu cử tổng thống 2024  là một cuộc bầu cử gian lận. Theo bản tin của AP loan ngày 30 tháng 7, 2024, ứng cử viên Edmundo González tuyên bố có bằng chứng số phiếu bầu cho ông ta nhiều gấp đôi số phiếu của Nicolas Maduro. Trên khắp Venezuela các cuộc biểu tình nổ ra đòi Maduro phải bước xuống.  Carter Center, một tổ chức theo dõi các cuộc bầu cử lớn trên thế giới, nhận xét: “Cuộc bầu cử tổng thống năm 2024 của Venezuela không đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về tính liêm chính bầu cử và không thể được coi là dân chủ.”

Mỹ và trên 50 quốc gia trong đó có Cộng Đồng Âu Châu không công nhận Nicolas Maduro.  

Tại Nam Mỹ,  một loạt các quốc gia như Argentina, Brazil, Chile, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Guatemala, Honduras, Panama, Paraguay, Peru lên tiếng công nhận  tổng thống Juan Guaidó. 

Trong quan điểm của Mỹ, vị trí của Maduro hôm nay không khác gì nhiều so với vị trí của tướng Manuel Noriega năm 1990. Năm 1989, Noriega cũng giải tán quốc hội và tiếm quyền.

Học Thuyết Monroe (The Monroe Doctrine) Và Vận Mệnh Hiển Nhiên (Manifest Destiny)

Thuyết Monroe chủ trương chống lại sự can thiệp của châu Âu đối với Mỹ và các nước Mỹ Châu bắt đầu từ thời TT James Monroe  vào năm 1823.  Đây là một trong những lý thuyết chính trị có ảnh hưởng lâu dài nhất trong lịch sử bang giao quốc tế của Hoa Kỳ.

“Học thuyết Monroe là chính sách nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ đối với Tây bán cầu. Được giấu kín trong một thông điệp thường niên gửi đến Quốc hội của Tổng thống James Monroe vào tháng 12 năm 1823. Học thuyết này cảnh báo các quốc gia châu Âu rằng Hoa Kỳ sẽ không dung thứ cho việc thuộc địa hóa thêm nữa hoặc các chế độ quân chủ bù nhìn. Học thuyết này được hình thành để đáp ứng những mối quan ngại lớn của thời điểm đó, nhưng nó nhanh chóng trở thành khẩu hiệu trong chính sách của Hoa Kỳ ở Tây bán cầu.” (Monroe Doctrine, 1823, Office of Historian, State Department) 

“Vận Mệnh Hiển Nhiên” (Manifest Destiny) , xuất hiện khoảng 1845, là một câu nói được biết do nhà báo John L. O'Sullivan viết đầu tiên. Câu nói này lúc đầu có tính cách dân gian nhưng sau đó đã trở thành một thúc giục tinh thần cho nước Mỹ còn non trẻ để khai phá và mở rộng lãnh thổ về phía tây. 

Điểm khác nhau căn bản giữa Mỹ và các thế lực bành trướng khác, sự mở rộng của Mỹ không dẫn tới phong kiến hóa hay thuộc địa hóa vùng đất mới mà “dẫn dắt thế giới trong quá trình chuyển đổi sang chế độ dân chủ.” (John O’Sullivan Declares America’s Manifest Destiny, 1845, The United States Magazine and Democratic Review, Volume 17)

Chính trị Mỹ có thể khác nhau về cách áp dụng trong từng giai đoạn nhưng Mỹ luôn đề cao giá trị dân chủ. Một khi các lực lượng dân chủ đủ mạnh để đứng lên lật đổ chế độ độc tài và không làm phương hại đến quyền lợi của Mỹ, chính phủ Mỹ luôn chọn đứng về phía lực lượng dân chủ.  

Trên nguyên tắc, lý thuyết Monroe chấm dứt sau Đại Suy Thoái (1932) khi các tổng thống Herbert Hoover và Franklin D. Roosevelt cải thiện quan hệ với các nước Châu Mỹ Latin.

Tuy nhiên trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, thuyết này lại được áp dụng một cách rộng rãi bởi nhiều tổng thống Mỹ như TT John F. Kennedy trong biến cố Vịnh Con Heo, Cuba và TT Ronald Reagan trong chiến tranh chống chế độ CS Sandinistas tại Nicaragua. 

Thế giới thay đổi nhiều sau thập niên 1990. Các chính sách quân sự, đảo chánh hay lật đổ chính phủ thời Chiến Tranh Lạnh không còn được áp dụng. Tuy nhiên, mục đích “lục địa Mỹ châu của người châu Mỹ” xác định trong thuyết Monroe vẫn còn được bảo vệ bằng nhiều cách.  

Quyền Lợi Nước Mỹ Và Công Pháp Quốc Tế

Trong lịch sử Mỹ, công pháp quốc tế và quyền lợi nước Mỹ không phải lúc nào cũng song song. Lịch sử Mỹ để lại nhiều bài học về sự mâu thuẫn giữa quyền lợi quốc gia và công pháp quốc tế, và Mỹ đã chọn bảo vệ quyền lợi quốc gia. 

Nhiều tổng thống Mỹ từ Ulysses S. Grant, Theodore Roosevelt, John F. Kennedy, Ronald Reagan tới George H. W. Bush và hôm nay Donald Trump đều đã áp dụng Thuyết Monroe để bảo vệ vùng quyền lợi và an ninh của Mỹ ở Châu Mỹ. 

Việc tấn công Venezuela và bắt sống Maduro sáng ngày 3 tháng 1, 2026, chắc chắn gây nhiều phản ứng tùy thuộc vào mối quan hệ giữa các quốc gia với chế độ Maduro. Không ngạc nhiên khi Nga, Iran, Trung Cộng là những nước đầu tiên kết án Mỹ. 

Đây cũng không phải lần đầu. Khi tấn công Grenada và Panama Mỹ đã bị kết án bởi hầu hết các tổ chức quốc tế trong đó có Liên Hiệp Quốc, Hiệp Hội Các Quốc Gia Mỹ Châu (The Organization of American States (OAS), Quốc Hội Âu Châu (The European Parliament). Ngay cả đồng minh thân cận nhất của TT Reagan thời đó là bà Margaret Thatcher cũng phàn nàn việc Mỹ xâm lăng Grenada vì Grenada vốn là thuộc địa của Anh. 

Ai Quyết Định Tương Lai Của Một Dân Tộc?

Tuy nhiên, yếu tố quyết định tương lai của một dân tộc dĩ nhiên không phải là các nhà độc tài, cũng không phải Mỹ mà là chính người dân nước đó. 

Trong lúc người dân không thể thay đổi được cục diện thế giới, họ có thể thay đổi được chính họ. 

Các cấp lãnh đạo mới nhìn vào thực tế đất nước và vận dụng được thế cờ quốc tế  để có lợi cho hướng đi của đất nước họ. Nhìn đúng như Nhật Bản sau Thế Chiến Thứ Hai sẽ mở ra cánh cửa tương lai, nhìn sai như Afghanistan sau 2001, cánh cửa tương lai sẽ đóng lại. 

Đại đa số dân Panama ủng hộ việc Mỹ loại bỏ Noriega và vận dụng cơ hội để thăng tiến Panama dân chủ.

Trong tác phẩm “Exiting the whirlpool : U.S. foreign policy toward Latin America and the Caribbean”, Robert Pastor, Giáo sư Quan Hệ Quốc Tế tại Đại Học American viết: 

“Cuộc xâm lược bị chỉ trích trên toàn thế giới, nhưng khi đó lại được đánh giá là thành công ở Panama và Hoa Kỳ. Một cuộc thăm dò của CBS News tại Panama vào đầu tháng 1 cho thấy 92% người trưởng thành ở Panama tán thành việc gửi quân, và 76% mong muốn Hoa Kỳ đã gửi quân trong cuộc đảo chính hồi tháng 10. Người dân Mỹ cũng tán thành cuộc xâm lược: 74% cho rằng nó là chính đáng, và chỉ 7% nghĩ rằng Hoa Kỳ không nên hành động như vậy. Quan trọng hơn, cuộc xâm lược đã cải thiện đáng kể uy tín của Bush so với các nước khác. (Robert Pastor, Exiting the whirlpool : U.S. foreign policy toward Latin America and the Caribbean, 1992)

Cũng trong tác phẩm nêu trên tổ chức nhân quyền hàng đầu thế giới là Human Rights Watch mô tả thái độ của người dân Panama là “có thiện cảm” với cuộc tấn công của Mỹ.

Đại đa số dân Grenada ủng hộ việc Mỹ loại bỏ chế độ Marxist tại Grenada và vận dụng cơ hội để thăng tiến Grenada dân chủ.

Theo New York Times số ra ngày 6 tháng 11, 1983, ký giả Adam Clymer tường thuật: “Theo một cuộc thăm dò ý kiến do CBS News thực hiện hôm thứ Năm, đại đa số người dân Grenada hoan nghênh cuộc xâm lược của Hoa Kỳ vào hòn đảo của họ. Họ cảm thấy rằng quân đội Mỹ đã đến để giải phóng họ khỏi ách thống trị của Cuba và ngăn chặn việc xây dựng một căn cứ quân sự. Một bộ phận đa số khác cho biết họ tin rằng người Cuba đang xây dựng sân bay mới trên đảo vì mục đích quân sự của Cuba và Liên Xô, chứ không phải để phát triển kinh tế hay du lịch.”  (The New York Times, November 6, 1983, Section 1, Page 21)

Tương tự, đa số dân Venezuela có thể cũng sẽ đồng ý với cuộc “xâm lăng giải cứu” của Mỹ, bởi vì Mỹ giúp họ lật đổ chế độ độc tài và sẽ có đời sống tốt hơn.

Venezuela từng là quốc gia giàu nhất Nam Mỹ nhưng đã bị Maduro làm cho phá sản, thiếu ngay cả các vật dụng tiêu dùng cần thiết hàng ngày.  GDP của Venezuela rơi từ $372.59 tỉ dollar năm 2012 xuống $108.6 tỉ dollar trong cuối năm 2025. Lạm phát gia tăng 172% trong năm 2025. Trong tất cả nạn nhân của Maduro, trẻ em chịu đựng nặng nhất. Nhiều em không thể đi học vì thiếu thức ăn. 

Theo Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ (UNHCR) đời sống và áp bức chính trị đã đẩy gần 8 triệu người người dân ra khỏi nước tìm đường sống. Cũng theo cơ quan quốc tế này “đây là cuộc khủng hoảng di dân lớn nhất thế giới từ trước tới nay.”

Thật khó tin, nhưng theo AP, mức lương hàng tháng tối thiểu của Venezuela là 130 bolivar, tương đương $0,90 đô la Mỹ, không tăng kể từ năm 2022, thấp hơn nhiều so với mức nghèo cùng cực do Liên Hợp Quốc quy định là $2,15 đô la Mỹ một ngày. (AP, For Many Families, Every Meal Is A Struggle In Venezuela’s Economic Crisis,  August 27, 2025) 

Theo Human Right Watch, trước và sau mùa bầu cử tổng thống 2024, “hơn 1,900 tù nhân chính trị đã bị bắt giữ kể từ ngày 29 tháng 7, trong đó có 42 thiếu niên từ 14 đến 17 tuổi, vẫn bị giam giữ tính đến cuối tháng 11. Theo tổ chức phi lợi nhuận Foro Penal, những vụ bắt giữ này góp thêm vào tổng số 17,882 vụ bắt giữ vì lý do chính trị kể từ năm 2014.”

Những Thành Tựu Của Panama Và Grenada

Chỉ hai tháng sau khi lật đổ Noriega, tân tổng thống Guillermo Endara đã giới hạn vai trò của quân đội và thay thế bằng một lực lượng cảnh sát quốc gia nhằm mục đích chính  là duy trì trật tự.  Ngày nay, Panama là một nước dân chủ cao với Global Freedom Score 83/100 chỉ sau Mỹ (84/100) và trên Ba Lan (82/100).

Freedom House tổng kết về thể chế chính trị tại Panama: “Các thể chế chính trị của Panama mang tính dân chủ, với các cuộc bầu cử cạnh tranh và sự chuyển giao quyền lực có trật tự. Quyền tự do ngôn luận và hội họp nhìn chung được tôn trọng. “ 

Về kinh tế, theo World Bank, GDP tính theo đầu người dân Panama tăng  bảy lần từ $2,462.00 năm 1990 đến $19,162.00 năm 2024.  

Những thành tựu tốt đẹp cũng đến với Grenada. GDP tính theo đầu người tại Grenada tăng hơn 8 lần từ $1,388 năm 1983 tới $11,705 năm 2024. 

Về chính trị, Freedom House nhận xét Grenada là “một nền dân chủ nghị viện thường xuyên tổ chức các cuộc bầu cử minh bạch.” Global Freedom Score của Grenada 89/100 cùng hạng với Pháp và Ý.

Venezuela trải qua nhiều chế độ độc tài chuyên chính từ 1948 dưới nhiều hình thức. Nhưng ngoài máu, nước mắt và tiếng than vô vọng, người dân Venezuela không có một tấc sắt trong tay để chống lại bạo quyền.

Tuy nhiên có vài điểm khác quan trọng giữa ba nước cần lưu ý: (1) dân số và (2) diện tích lãnh thổ và (3) quân đội. 

Dân số Grenada vào năm 1983 chỉ vỏn vẹn 94,948 người với diện tích 344.5 kilomet vuông. Dân số Panama năm 1990 chỉ 2.4 triệu người với diện tích 74,340 kilomet vuông. Trong khi đó, theo WorldOMeter, dân số Venezuela năm 2025 là 28,516,896. Diện tích của Venezuela là 912,050 kilomet vuông. 

Theo Giáo sư John Polga-Hecimovich, một học giả về Venezuela tại the U.S. Naval Academy: “Venezuela cũng sở hữu một trong những đội quân thường trực lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Trên tất cả các binh chủng, Venezuela có khoảng 150.000 binh sĩ trong lực lượng vũ trang.” (Simon Romero, How Could Venezuela’s Military Respond to U.S. Threats? Here’s What to Know. The New York Times, Nov. 5, 2025 Updated Dec. 18, 2025)

Hơn một nửa diện tích của Venezuela là rừng.  Bất cứ một biến động chính trị hay quân sự lớn nào cũng có thể dẫn đến chiến tranh hao mòn và sa lầy trong chiến tranh du kích. Giáo sư John Polga-Hecimovich, người đang giảng dạy tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ  lưu ý “ Kho vũ khí bất thường của Venezuela đến từ các đối thủ của Mỹ như Nga, Iran và Trung Quốc.”

Nhìn từ đâu và góc độ nào?

Nhìn vào một biến cố chính trị ai cũng thấy giống nhau, đọc giống nhau nhưng kết luận có thể mỗi người mỗi khác tùy theo quan điểm, lập trường chính trị và đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp.  Nếu nhìn từ phía Nga, TC hay Iran chắc chắn bạn sẽ nghe những lời kết án nặng nề. Nếu đứng trên phía luật quốc tế, bạn sẽ phê bình nghiêm khắc. Thế giới ngổn ngang, không có sai hay đúng chỉ khác chỗ đứng và góc nhìn.

Nhưng nhìn đâu chăng nữa, bạn cũng nên dành một phút để nhìn lại số phận của những người dân Venezuela chịu đựng triền miên dưới các ách độc tài và chúc cho họ có một tương lai tốt đẹp hơn những ngày sống dưới chế độ Hugo Chávez và Nicolas Maduro.

Trần Trung Đạo

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn