
Trần Mạnh Hảo (danlambao) - Phải
giả mù, giả câm, giả điếc để sống, mà vẫn sống được trong xã hội nhố nhăng nửa
thực dân phong kiến thối nát, đảo điên kia, mới thương cho Nguyễn Khuyến phải
ra tuồng trong chính thân phận mình: "Mua vui lắm lúc cười cười gượng /
Giả dại nhiều khi nói nói bông". Ngẫm xưa mà ngán cho hôm nay, thiên
hạ đang phấn khởi nhập bao nhiêu vai tuồng, vai hề mua vui cho kẻ quyền quý kiếm
chút cơm thừa canh cặn, vẫn không biết liêm sỉ ngượng ngùng, lại cứ dương dương
tự đắc với vai hề văn nghệ múa may?...
Chúng ta từng chứng kiến việc
PGS. Nguyễn Lộc xuyên tạc văn bản thơ Nguyễn Khuyến trong sách giáo khoa Văn
trung học bằng cách để nhà thơ ngồi ngắm hoa khô. (Sách giáo khoa văn lớp 10
từng dạy học sinh cả nước: “Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái” – Hoa đã nở từ năm
ngoái khô đi và còn lại đến bây giờ. Đây là câu thơ tả thực). Không, Nguyễn
Khuyến ngồi lẫn giữa trăng suông rượu lạt, lẫn trong hoa tươi, tre trúc, rơm
rạ, ao chuôm, lẫn trong ếch nhái, đom đóm cùng thuyền thúng, lá thu rơi để trào
lộng chua cay thời thế đảo điên, đoạn rút vào thui thủi, lẳng lặng cô đơn, cô
độc, đêm đêm tự mài hồn mình thành máu mực đề thơ mà nhớ nước.
Như thể
nước lụt Hà Nam
đã hóa giặc Lang Sa cuốn đi tất cả, chỉ mình ông sót lại cùng vài người bạn bơ
vơ: "Nước non man mác về đâu tá / Bè bạn lơ thơ sót mấy người / Đời
loạn đi về như hạc độc / Tuổi già hình dáng tựa mây côi" (Cảm hứng).
Có thể nói, Nguyễn Khuyến là bậc đại nho cuối cùng trăn trở tìm mùa thu ở ẩn,
là con hạc thi ca cuối cùng của thời đại phong kiến Việt Nam còn giữ được cốt
cách và tinh thần hạc vàng Thôi Hiệu, đã một mình lặng lẽ bay qua thế kỷ thứ
XIX buồn đau, u uất, đặng tìm chỗ đậu trong 9 năm đầu của thế kỷ thứ XX, rồi
đột ngột bay vào hư vô dịp tết âm lịch đầu năm 1909 khi vừa tròn 74 tuổi hạc.
Thân phận "hạc độc" của Nguyễn Khuyến quả là cô đơn đến tột cùng, u
uất, lủi thủi tới tận cùng thi tứ.
Vòm trời
xưa của hoàng hạc thanh cao, tinh khiết là thế, nay diều quạ đen trời si sô đến
cướp mất, nên:"Nước non man mác về đâu tá" và hồn thơ chừng
cũng mất nẻo đi về. Con hạc này bị thời đại bỏ rơi, tưởng không còn một chỗ đậu
trên chính quê hương mình. "Hạc độc" đành hóa đám "mây
côi" mà lơ lửng như chính hồn thơ Nguyễn Khuyến còn lửng lơ bao nỗi niềm khôn
khuây trên vòm trời văn học Việt Nam
thuở nước nhà bị mất vào tay giặc Tây dương.
Chao ôi,
hơn một trăm năm trước, cả đám mây trong mắt thi hào cũng phải mồ côi vòm trời,
như nhà nho mồ côi vua, dân mồ côi nước. Tinh thần "hạc độc"
với " mây côi" bàng bạc, xuyên suốt thời đại và cuộc đời
Nguyễn Khuyến, thành một phần tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ của hồn thơ ông.
Những bài thơ tả cảnh quê hương Việt Nam hay nhất, đẹp nhất của ông cũng là cốt
tả cái hay, cái đẹp của lẻ loi, cô quạnh, se sẽ đẹp, trong veo và xa vắng đẹp
đến vô cùng khuất nẻo bơ vơ: "Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng / Chiếc
thuyền len lỏi bóng trăng trôi". Hồn thơ Nguyễn Khuyến chính là "Tiếng
sáo vo ve" bên trời "nước vọng", là "bóng
trăng trôi" dưới dòng lũ vô tình cuộn xiết, hóa chiếc thuyền thơ cô
độc len lỏi trên thi đàn Việt Nam thuở cơn lụt lội nhân tình thế thái ngập tràn
xứ sở.
Ngay
trong hai câu thơ hay đến sững sờ tả cảnh đẹp hun hút, đẹp rờn rợn nổi gai ốc
của nước lụt Hà Nam này, Nguyễn Khuyến cũng chỉ cốt mượn nước lụt mà gọi hồn
nước về trong từ "nước vọng" để: "Sửa sang việc nước cho yên
ổn"... Tâm thức "nước", "nước non", "đất
nước"... có thể nói là tâm thức chủ đạo của Nguyễn Khuyến trong cả thơ
nôm và thơ chữ Hán; tuy ở đây chúng tôi chỉ mới khảo sát qua thơ nôm của ông mà
thôi.
Trong
bài thơ "Tự trào", Nguyễn Khuyến nói thẳng ra điều cốt lõi nhất, đau
đớn nhất của ông là nỗi nhục, nỗi đau vong quốc, thông qua nghĩa đen của cuộc
chơi cờ: "Cờ đương giở cuộc không còn nước". Vì "Không
còn nước" nên vua cũng không còn thực nữa, chỉ là vua hề, chỉ là quan
phường chèo thôi: "Vua chèo còn chẳng ra gì / Quan chèo vai nhọ khác
chi thằng hề" (Lời vợ anh phường chèo).
Một vị
túc nho lấy trung quân ái quốc làm đầu, phải tự tìm nhọ nồi, muội đèn, tro trấu
mà bôi trát lên mặt vua quan thành trò hề như thế, với Nguyễn Khuyến hẳn là nỗi
đau lớn nhất trong đời? Vì "Không còn nước" nên sau hơn 12 năm
làm quan tới chức Tổng đốc Sơn Tây, lúc vua Tự Đức mất và vua Hàm Nghi ra chiếu
cần vương chống Pháp, nhà thơ mượn cớ mắt lòa cáo quan về ẩn dật cùng cà thâm
dưa khú.
Ông buồn
lặng hóa "mây côi", hóa "hạc độc", hóa thành "hoa năm ngoái",
thành "ngỗng nước nào", thành con cuốc gọi hồn nước năm canh, thậm
chí hoá thân vào mẹ Mốc, vào gái góa, vào anh giả mù, giả câm giả điếc, thậm
chí giả điên kiểu Sở cuồng, làm thơ đả kích giặc và tay sai, như một cách yêu
nước kháng Pháp của riêng mình...
Nguyễn
Khuyến đau đớn nhận ra hoa nở ngoài giậu thu cũng không còn là hoa hôm nay của
mình nữa, ngỗng kêu trên bầu trời quê hương dĩ nhiên là ngỗng nước mình, chứ
sao lại là ngỗng nước nào: "Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái / Một
tiếng trên không ngỗng nước nào"? (Thu vịnh). Khi "Không còn
nước" nữa thì con ngỗng kia cũng thành vong quốc, vong thân, thành
"ngỗng nước nào"thôi. Phải chăng ngỗng ấy cũng là ngỗng từ năm ngoái,
ngỗng của mình xưa mà không dám nhận, mà phải đau đớn than là "ngỗng
nước nào"? Rằng người không còn giữ được nước thì bay về làm gì ngỗng
ơi?
Nhà thơ
tủi hổ với cả ngỗng trên trời và hoa dưới đất, muốn làm con cá lặn khuất dưới
ao bèo, ngại cả nỗi cắn câu. Đất đã mất thì trời phỏng còn ư, mùa thu phỏng còn
ư?
Hoa ấy,
ngỗng ấy cũng là Nguyễn Khuyến; như "mây côi" và "hạc
độc" kia còn bị vong thân, vong quốc huống nữa là trời đất, con người!
Chúng
tôi cho rằng, dù viết về phong cảnh mùa thu nông thôn, dù nới rộng đề tài ra từ
bản thân mình đến xã hội, từ chim hoa, xóm mạc đến nước non... hồn thơ Nguyễn
Khuyến bao giờ cũng toát lên một tinh thần yêu nước sâu xa, yêu nước trong đau
đớn, tủi buồn, yêu một cách trầm lắng mà sôi sục, quặn thắt mà quan hoài, trào
lộng mà trữ tình, kín đáo mà động vang, cô đơn mà hòa nhập, lạnh lùng mà bỏng
cháy, dữ dội mà dịu êm.
Bút pháp
nghệ thuật bậc thầy dùng thuỷ nói hỏa, dùng tĩnh tả động, dùng dương tả âm,
dùng vật tả tâm, dùng cảnh ngụ tình và ngược lại của Nguyễn Khuyến đã khiến
không ít người khi tiếp cận thi ca ông, mới đụng vỏ ngoài đã tưởng thấu vào gan
ruột; ví như cách dạy văn rất phi văn học của nền giáo dục phổ thông và đại họcViệt
Nam hôm nay hoàn toàn không hiểu nổi hồn thơ Nguyễn Khuyến. Ví như trường hợp
ba bài thơ thu của thi hào là bài "Thu vịnh", "Thu
điếu", "Thu ẩm" được coi là dấu hiệu thiên tài của nhà thơ
nông thôn đệ nhất Việt Nam mà có người, ngay cả khi viết sách giáo khoa cũng
chưa thẩm hết hồn thu Nguyễn Khuyến.
Họ nhìn
bằng mắt thường nên ngỡ mặt ao thu bình lặng kia là đáy nước, nên bảo nhà thơ
viết về mùa thu với tâm trạng thư thái, an nhàn(!) Rằng nhà thơ uống rượu say
nhè như anh Chí Phèo say rượu lè nhè vậy...
Không,
Nguyễn Khuyến chỉ hớp một tí rượu trong chén hạt mít lấy hứng, chứ không say lè
nhè như ai hiểu. Dưới cảnh thu, ngồi nhấp chút rượu thu, câu cá thu, làm thơ
thu, nhà thơ chỉ mượn bề mặt tĩnh lặng ao thu mà tả sự động vang sôi sục, quặn
thắt, u uẩn, buồn thương nơi thẳm đáy lòng mình, đặng gọi hồn nước đã mất về
thương hồn thu hiển hiện.
Nói theo
kiểu Apollinaire, Nguyễn Khuyến chừng cũng cảm thấy hồn thu đã chết, đã bỏ đi
đâu như hoa kia ngỗng nọ, chỉ còn thân xác thu trong veo, cô quạnh, vắng ngắt,
bàng bạc như con ve mùa hè nằm chết trong mùa thu sau khi đã hát rỗng cả ruột
gan.
Tả lửa
song Nguyễn Khuyến vẽ khói, tả nước mà nói thu, tả nỗi thẹn mình, tủi lây sang
thu mà phải mượn tới ông Đào Tiềm đời Tấn. Cũng có thể gọi ba bài thơ thu của
ông là tiếng chiêu hồn thu, chiêu hồn nước. Ngồi thưởng thu không chút thư
nhàn, đau xót quá, cảm thương nước mất mà sao thu vẫn rưng rưng tìm về, nên nhà
thơ không đừng lòng được, đành rơm rớm khóc: "Mắt lão không vầy cũng đỏ
hoe"? Đừng đổ oan cho Nguyễn
Khuyến "mắt đỏ hoe" vì say rượu. Mùa thu trong ba bài
thơ đẹp đến lạnh ngắt, đẹp đến tột cùng cô đơn, u tịch, phải chăng vì mùa thu
chưa chiêu được hồn "hoa năm ngoái", chưa gọi được vía " ngỗng
nước nào"...?
Cám cảnh
thay nỗi "Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được" của nhà thơ; như thể
ông là tù binh của cần câu, là tù binh của chính hồn mình đang ở đâu đâu trong
trời đất mang mang thiên cổ lụy? Nguyễn Khuyến yêu nước lắm, thương nòi lắm,
đau đớn nỗi đời quay quắt lắm, đành giấu kín tình yêu nước vào cảnh thu, ao
thu, rượu thu như cá giấu dưới ao bèo. Thi thoảng, ta nghe một tiếng "Cá
đâu đớp động dưới chân bèo", như nhà thơ ngầm an ủi mình rằng còn cá
tức nhiên còn nước...
Vì vậy,
Nguyễn Khuyến rút ruột hóa thân vào hồn Thục Đế xưa, thành con cuốc gọi hồn
nước nay đến chảy máu cả đêm hè: "Năm canh máu chảy đêm hè vắng / Sáu
khắc hồn tan bóng nguyệt mờ / Có phải tiếc xuân mà đứng gọi / Hay là nhớ nước
vẫn nằm mơ " (Cuốc kêu cảm hứng). Thương thay cho "Ngỗng nước
nào" vẫn không chịu bay đi, còn kêu xé trời cao trong thảng thốt nỗi
niềm dù mùa thu đã chết. Con ngỗng vong thân, gãy cánh, đáp xuống trang thơ mà
hóa thành con cuốc Việt Nam
chiêu hồn nước tới bây giờ. Bài thơ "Cuốc kêu cảm hứng" thật hay,
thật đoạn trường, đọc xong muốn khóc.
Chúng ta
thương và kính trọng Nguyễn Khuyến vô cùng. Ông đã nén cả một nhân cách lớn,
một hồn thơ lớn, một tri thức lớn, một nỗi đau lớn vào tiếng cuốc nhớ nước thảm
thiết làm chảy máu cả tâm can người đọc hôm nay. Tinh thần hoài cổ, tinh thần
"Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ" len lỏi vào mọi tâm sự, mọi vui buồn,
thương giận, nhớ nhung của nhà thơ. Ngay cả khi vịnh ông phỗng đá với ngụ ý
diễu mình, nhà thơ vẫn xót xa hỏi: "Non nước đầy vơi có biết không?"
Chính vì nỗi "non nước" khôn nguôi này làm ông tủi hổ, làm như lỗi
tại mình mà nước mất nhà tan, nên mượn thơ mà cả thẹn: "Áo xiêm nghĩ
lại thẹn thân già / Xuân về ngày loạn càng lơ láo".
Một
người tài cao, học rộng, thương xót, nương nhẹ từng cọng cỏ nhành hoa, một nhân
cách lớn, khiêm cung tự tại, lại phải đưa mình ra mà diễu, mà tự cười cợt, bông
phèng mình thì hẳn là phải đau đớn lắm, khổ tâm lắm: "Mở miệng nói ra
gàn bát sách / Mềm môi chén mãi tít cung thang / Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ"
hoặc: "Lúc hứng uống thêm dăm chén rượu / Khi buồn ngâm láo một câu thơ".
Một người thính nhạy như Nguyễn Khuyến từng biết nghe bằng hồn, bằng vía, chán
nỗi đời đục mà giữ mình trong, đành ngụ mình, nương mình làm "Anh giả
điếc": "Trong thiên hạ có anh giả điếc / Khéo ngơ ngơ ngác
ngác ngỡ là ngây"...." Sáng một chốc lâu lâu rồi lại điếc".
Phải giả
mù, giả câm, giả điếc để sống, mà vẫn sống được trong xã hội nhố nhăng nửa thực
dân phong kiến thối nát, đảo điên kia, mới thương cho Nguyễn Khuyến phải ra
tuồng trong chính thân phận mình: "Mua vui lắm lúc cười cười gượng /
Giả dại nhiều khi nói nói bông". Ngẫm xưa mà ngán cho hôm nay, thiên
hạ đang phấn khởi nhập bao nhiêu vai tuồng, vai hề mua vui cho kẻ quyền quý kiếm
chút cơm thừa canh cặn, vẫn không biết liêm sỉ ngượng ngùng, lại cứ dương dương
tự đắc với vai hề văn nghệ múa may?
Mượn sự
điên dại của "Mẹ Mốc" tỏ bày tâm sự, Nguyễn Khuyến như tự xé quần áo
tinh thần mình để phơi bày "hình hài gấm vóc" ra mà che mắt
thế gian, những mong yên ổn: "Tấm hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa / Làm
thế để cho qua mắt tục". Mẹ Mốc ấy là tâm hồn vằng vặc muôn sau của
Nguyễn Khuyến, sống trong thế giới của những "Đĩ cầu Nôm",
"Tiến sĩ giấy", "Hội Tây"... vẫn không chút bợn nhơ:
"Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết / Mảnh gương trinh vằng
vặc quyết không nhơ"...
Nhà thơ
vô cùng căm ghét bọn cướp nước và bán nước. Ông dùng tài thơ trào phúng vừa
hóm, sâu, vừa cay độc đến tận cùng mà váy hóa lá cờ tam tài của giặc trong
tiếng cười thâm thuý: "Ba vuông phất phới cờ bay dọc / Một bức tung
hoành váy xắn ngang". Hóa ra cái váy con đĩ của thời: "Vợ bợm,
chồng quan, danh phận đó" đã được kéo lên thành cờ "ba vuông"
phất phới, ngang dọc, làm bình phong che mặt tham quan ô lại đục nước béo cò.
Nguyễn
Khuyến mang vũ khí trào lộng vạch mặt chúng bằng tiếng cười cay độc: "Có
tiền việc ấy mà xong nhỉ / Đời trước làm quan cũng thế a?" Phải sống
trong thời "Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc" làm
sao Nguyễn Khuyến không thẹn thùng, tủi hổ, xót xa cả hồn thơ, đành than trời: "Thử
xem trời mãi thế này ư?". Tìm mùa thu ẩn mình không yên ổn, núp vào
mình cũng không xong, nhà thơ đôi khi phải trốn vào giấc mơ mà chơi trò đánh
bùn sang ao bản thể, mà lẫn lộn bóng mình với bóng người, lấy hư làm thực bằng
một câu thơ tuyệt hay, rất hiện đại: "Bóng người ta nghĩ bóng ta / Bóng
ta, ta nghĩ hóa ra bóng người" (Bóng đè cô đầu).
Thơ nôm Nguyễn Khuyến hay cả ở thần lẫn ở thái, ở hình lẫn ở thể, ở hồn chữ dân
gian, gợi cảm, mới lạ, hiếm thấy ví như: "Quyên đã gọi hè quang quác
quác / Gà từng gáy sáng tẻ tè te... Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe",
"Bán buôn gió chị với trăng dì"... Nguyễn Khuyến quả là thánh
chữ khi dùng động từ "thập thò" trong câu thơ thần tình sau: "Một
khóm thuỷ tiên dăm bảy cụm / Xanh xanh như sắp thập thò hoa".
Câu thơ
"sắp thập thò hoa" này mang đặc trưng nhất của phong cách
Nguyễn Khuyến.
Từ đây,
ta có thể thấy thi pháp "thập thò hoa" là thi pháp độc đáo kỳ
khu của thơ ông: thập thò giữa tình và cảnh, giữa vật và tâm, âm và điệu, cảm
và thức, thập thò giữa thực và hư... kiểu "hoa năm ngoái" và
"ngỗng nước nào"... Nguyễn Khuyến mượn cảnh đẹp nông thôn mà
yêu nước Việt, một tình yêu buồn thương u uất được thể hiện bằng nghệ thuật trữ
tình trào phúng của thơ bậc thầy. Ông chính là ngọn Đọi sơn của thi ca Việt Nam ,
nơi nhà thơ từng viết: "Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá / Sư cụ nằm chung
với khói mây".
Không,
chính là hồn thơ Nguyễn Khuyến vẫn "nằm chung với khói mây" trên đỉnh
trời thi ca dân tộc. Thắp nén hương ngày tết tưởng nhớ lần giỗ thứ hơn trăm của
Nguyễn Khuyến, cũng là dịp cho ta đọc lại câu thơ hay nhất của thi hào mà giật
mình trước tấm lòng trắc ẩn và tư tưởng sâu sắc của tiền nhân, đã có nhã ý mượn
tóc gió mà dối lại cho đời sau câu hỏi nhức nhói khôn cùng của triết học nhân
sinh:"Ngọn gió không nhường tóc bạc a?".
Vâng,
ngọn gió thời gian, ngọn gió của quy luật muôn đời không nhường tóc bạc thời
đại Nguyễn Khuyến đã đành; mà kể cả thời đại chúng ta, nó cũng không biết
nhường ai cả. Dù là tóc bạc của thi ca, của thiên tài đi chăng nữa gió cũng
chẳng nhường đâu; huống gì những nhí nhố thời cuộc đang băm bổ hô hét muôn năm
rồi cũng bị cuốn theo chiều gió, sẽ tan biến đi như chưa hề tồn tại...


tho cu Nguyen Khuyen trong sang,thanh cao lam sao bon boi but cho nha nuoc cam nhan duoc
Trả lờiXóaKinh gui Thi sy Tran Manh Hao,
Trả lờiXóa(xin loi la da khong viet duoc bang tieng Viet co dau}
Ke sy Bac Ha thoi nao cung co,
Cu Tam nguyen Yen Do la mot nguoi nhu vay.
Toi la mot nguoi it hoc, nhung cung dam khong dong tinh voi sach giao khoa pho thong cua nuoc nha, viet rang chum tho thu cua cu Tam nguyen la "ta phong canh lang que dong bang Bac Bo Viet Nam".
Toi nghi chi trong nhung bai van cua hoc tro tre con moi co thu van ta canh ma khong ngu tinh.
Cu Tam nguyen la mot bac dai nho cua nuoc nha, ma lai di lam tho ta canh sao.
Mot nguoi da do den Dinh nguyen, lam quan den Tong doc Son Hung Tuyen, lai cung da cao quan ve o an de bat hop tac voi trieu dinh dang "ban nuoc cau vinh", mot nguoi khi tiet den nhuong do ma lai di lam tho ta canh sao.
O day toi chi xin mao muoi thua voi thi sy ve HOA NAM NGOAI.
Day la HOA CUC, mot trong Tung-Cuc-Truc-Mai tuong trung cho khi tiet nguoi quan tu.
Cay hoa cuc la giong cay moi nam phai moi trong lai, thi cay moi tuoi tot va tro hoa to va dep.
Con neu khong trong lai thi cay van song lay lat va van tro hoa, hoa nay khong to nhung van dep ruc ro va no ro "may chum truoc dau".
Thu cay hoa nay cung giong nhu LONG YEU NUOC cua nguoi dan Viet ta, neu no duoc su dong thuan cua trieu dinh thi no se tuoi tot, con neu khong thi no van song ben bi va tro hoa ruc ro dau la hoa co nho be va thua thot.
May loi mao muoi xin trinh duoi an thu.
Em chưa bỏ qua bài viết nào của bác trên DLB cả, nhất là những bài bình thơ.
Trả lờiXóaXin cảm ơn và mong chờ bài tới của bác.
Chào bác
Chỉ thấy tên tác giả đã có cảm hứng để đọc bài viết rồi. đúng là bài nào của ông cũng chuyển tải một nội dung đáng suy ngẫm, và quan trọng là nó thấm đẫm tình người, một sự cảm thông chia sẻ với những số phận không may mắn trong cuộc đời, phải chăng đó là một trong những thiên chức chủ yếu của nhà văn? Nếu đúng như vậy thì ông là nhà văn đích thực và bain đọc luôn hướng về ông với những mong mỏi như thế. Chúc ông và gia đình có được sự bằng an nơi nước chúa. Amen.
Trả lờiXóaNguyễn Khuyến là bậc kì tài của thi đàn V.N thì quá đúng rồi,chắc chắn rồi,chẳng ai dám bán cãi cả.Chỉ có những kẻ xấu bụng với dân tộc này,đất nước này lợi dụng viết bài phân tích ca ngợi cụ Yên Đổ rồi lợi dụng thơ của cụ để tuyên truyền xuyên tạc bôi xấu chế độ nhà nước V.N xã hội chủ nghĩa mà thôi!hỡi mọi người hãy cảnh giác với loại người lá mặt,lá trái này.Thời nào dù xưa hay nay người ta cũng dị ứng với những kẻ phản thầy lừa bạn.Hỡi mọi người...hãy cảnh giác!!!
Trả lờiXóa@ NGứa tai : Chính cái mày mới là thằng đâm bị thóc chọ bị gạo , lá mặt lá trái đó .Cám ơn bác Hảo nhiều !
Trả lờiXóaCảm ơn Bác Hảo. Bác đã nói thay nỗi niềm của muôn ngàn người đang sống trong tình cảnh "ngoài mặt cười nụ..." nhưng khóc thầm bên trong này.
Trả lờiXóaNhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.
Trả lờiXóatoi thay tho ong cay dang that, phai gia khung gia dien song moi duoc bon cong san VN...
Trả lờiXóaNGỨA TAI says:
Trả lờiXóa22:35 Ngày 19 tháng 11 năm 2011
... mọi người hãy cảnh giác với loại người lá mặt,lá trái này.Thời nào dù xưa hay nay người ta cũng dị ứng với những kẻ phản thầy lừa bạn.Hỡi mọi người...hãy cảnh giác!!!
Mà NGỨA TAI là một ví dụ điển hình.
NGỨA TAI says:
Trả lờiXóa22:35 Ngày 19 tháng 11 năm 2011
... mọi người hãy cảnh giác với loại người lá mặt,lá trái này.Thời nào dù xưa hay nay người ta cũng dị ứng với những kẻ phản thầy lừa bạn.Hỡi mọi người...hãy cảnh giác!!!
Mà NGỨA TAI là một ví dụ điển hình.
sao không làm thơ mà bình thơ không vậy CỤ Hảo ?
Trả lờiXóaMượn thơ Nguyễn Khuyến để nói lên nỗi lòng mình, hóa ra TMH cũng là bậc thầy của 'đạo' văn chương (khác với đạo thơ đạo văn -xin đùng hiểu lầm). Nỗi lòng của nhà thơ Nguyễn Khuyến hơn trăm năm trước khi đứng trước vận nước, vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan cũng chính là nỗi lòng của TMH hom nay.
Trả lờiXóaTiếng nói của một người 'ly thân' sau bao nhiêu năm chung sống với cs thật đáng trân trọng.
cảm ơn bác TMH,bác bình thơ tuyệt hay.
Trả lờiXóaChỉ những người yêu nước đích thực và hồn thơ sâu sắc, mới cảm nhận được cái hay cái đẹp của thơ Nguyễn Khuyến.
Nỗi đau buồn cảnh nước mất, nhà tan của Nguyễn Khuyến vẫn còn sướng hơn các nhân sỹ trí thức yêu nước thời nay nhiều. Cụ vẫn còn được tự do sáng tác để lại cho hậu thế những bài thơ bất hủ. Còn những nhân sỹ trí thức yêu nước ngày nay, những tác phẩm có giá trị của họ làm sao được xuất bản, chưa kể họ bị đày đọa, tù tội, thủ tiêu không chỉ riêng họ mà còn cả con cháu họ. Cũng may thời nay có intenet nên những tác phẩm của họ vẫn được lưu giữ, lưu truyền.
Trả lờiXóaBài viết hay quá làm bọn bồi bút chúng tao lấy quần che mặt !
Trả lờiXóaCái thằng " NGỨA TAI " này phải đổi tên lại thành "THỐI TAI " mới đúng, vì mày không còn cảm nhận được cái đúng, cái sai nữa rồi !
Trả lờiXóaỐi giời ạ!các bậc trái nhăn quăn tử(ngược lại với Chính Nhân Quân tử)đang xúm vào xun xoe nịnh bợ ai thế không biết?Hẩu à!chỉ có tớ mới dám phản biện bài viết của Hẩu,còn cái lũ hùa nhau vào bốc thơm Hẩu là chúng nó chơi lểu đấy!Để tớ kể cho Hẩu nghe một câu chuyện :Có một thằng bé con trèo lên cây rồi đứng tè bậy xuống...tất nhiên cái việc làm đó là không hay nhưng có một số kẻ với dụng tâm xấu,muốn mượn tay người khác để trừng trị thằng bé ngỗ nghịch đó nên xúm vào vỗ tay hoan hô,thằng bé tưởng việc mình làm là hay nên càng cố rặn ra mà tè bậy...cùng lúc đó có một anh quan võ đi tới...và tất nhiên là việc gì phải xẩy ra sẽ phải xẩy ra!thằng bé bị lôi xuống và nhận một trận đòn thừa sống thiếu chết!!!giá như lúc trước đó có một người có tâm,mắng thằng bé...bảo nó rằng:việc làm của nó là xấu,rồi kéo nó xuống thì nó đã không bị no đòn...dông dài thế đủ rồi,Hẩu phải đề phòng mấy đứa hay bốc thơm Hẩu đấy nhé???
Trả lờiXóaTruyện cổ tích TẤM CÁM đã được chỉnh sửa.Chuyện THẰNG BÉ TÈ cũng được "tút" lại để mấy cháu bé khỏi thấy MỘT ÔNG QUAN VÕ[đương nhiên của triều đình]LẠI ĐI ĐÁNH VÕ VỚI MỘT THẰNG BÉ.Mấy thằng YÊU NƯỚC lại có cớ xuyên tạc.
Trả lờiXóaĐoạn kết được chỉnh như sau:
...cùng lúc đó có một anh QUAN VÕ MÕM[miệng] đi tới.Vốn MÕM RỘNG,TAI TO nên anh ta phát hiện MÔI mình măn mẳn nên nghiêng ĐẦU vểnh TAI cố tìm nguồn"NIỆU LIỆU PHÁP"xuất xứ nơi mô?Chỉ chờ có thế,thằng bé rặn 10 thành công lực:một vòi rồng xuyên qua tai anh quan nọ.Lúc đầu,anh ta thấy NGỨA TAI nhưng càng về sau càng mất tín hiệu viba,giám định pháp y là THỦNG MÀNG NHĨ.Không NGHE được nên anh quan NGẬM MÕM LẠI.
Câu chuyện sửa lại như thế.NẾU QUÝ VỊ PHÁT HIỆN AI NGỨA TAI,QUÝ VỊ NHỚ LÀM PHÚC NÓI HỌ CÂM MÕM LẠI.Cám ơn nhiều.
Ngứa tai sinh ra và lớn lên trong lòng bố mẹ là quan chức Nhà nước hưởng nhiều bổng lộc của Ba Đình nên nói ra toàn "châu ngọc" .Quả là "miệng nhà quan có gang có thép" nên chớ vào đây ,nơi "đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm " nhé!
Trả lờiXóaNơi đây toàn loại IQ (hay AQ) loại thấp cả nên dễ bị mắc lừa lắm.
Xin Ngứa tai hãy tìm nơi khác nhé để nâng cao tầm hiểu biết của mình.
bác bình thơ của cụ "Tam nguyên" rất hay và rất thấm thía. Cháu học trong trường thì không phải vậy thế nên không thấy "phê" như bài bình của bác.
Trả lờiXóaMùa thu heo may, gió se lạnh. Đọc bài bình về mùa thu mà ba bài THU của cụ Tam nguyên cháu thấy yêu đời lắm. Cháu chúc bác mạnh khỏe, viết khỏe, chỉ cần thấy tên của bác là cháu đọc và copy bài ngay. Nếu được, mùa xuân này bác bình bài thơ: Ông đồ của cụ Vũ Đình Liên được không bác? Cháu rất yêu bài thơ này và muốn "cảm" được cái hồn của "ông đồ".
Cám ơn bác nhiều!
Bài viết về Nguyễn Khuyến của TMH là một áng văn tuyệt diệu. Hình như TMH lấy bản thân mình ra để viết về NK,lấy thời đại tù hãm này ra để cảm thông cùng thời nhố nhăng xưa của NK. Hèn gì, bọn Ạ 25, bọn bồi bút tức điên lên, sai thằng NGỨA TAI ( thối tai ?) ra chửi ông TMH búa xua.Thơ NK rất lớn phải có văn phong,bút pháp lớn của TMH mới giải mã nổi.
Trả lờiXóaHoan ông TMH viết về NK mà bọn cộng tức điên. Chế độ CS hôm nay còn tồi tệ hơn thời thực dân phong kiến.
TMH phân tích thơ của cụ Nguyễn Khuyến tôi thấy rất hay, nhưng nếu bài này chấm điểm trong các nhà trường chắc là không được điểm cao vì không đúng theo dàn ý, gợi ý của chương trình giảng dạy!
Trả lờiXóa