Một thời điểm trọng đại trong lịch sử thế giới và Việt Nam - Dân Làm Báo

Một thời điểm trọng đại trong lịch sử thế giới và Việt Nam

Nguyễn Gia Kiểng (Thông Luận) - “...Dân chủ thắng không phải vì có bạo lực, mà vì không gì mạnh bằng một ý kiến đã chín muồi...”
*
Thưa quí vị và các anh chị em,

Để mở đầu phần thảo luận hôm nay trước hết xin chia sẻ với quí vị và các anh chị em một cảm giác của anh em chúng tôi trong Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên và của chính tôi. Đó là rất có thể người Việt Nam chúng ta chưa ý thức được rằng chúng ta đang đứng trước một vận hội lịch sử rất lớn. Một làn sóng dân chủ mới rất mãnh liệt đang dâng lên. Nó sẽ thay đổi hẳn bộ mặt của thế giới và cho chúng một cơ hội để bước vào kỷ nguyên thứ hai của lịch sử nước ta, kỷ nguyên dân chủ.

Sở dĩ chúng tôi có cảm giác đó là vì chúng tôi chưa nhận thấy một khí thế phấn khởi, bồn chồn, lo lắng, hy vọng đáng lẽ phải có. Nhiều người hình như không thấy rằng một làn sóng dân chủ mới đang dâng lên. Trong số những người nhìn thấy thì phần đông tự hỏi không biết là sóng dân chủ đó có tràn tới Việt Nam hay không và câu trả lời không hẳn là lạc quan.

Câu hỏi làn sóng dân chủ mới có tràn tới Việt Nam hay không chỉ có thể trả lời một cách thỏa đáng nếu chúng ta hiểu như nhau thế nào là một làn sóng dân chủ, bản chất và tác động của nó ra sao. Vậy thì tôi xin phép quí vị và các anh chị em trình bày lại một lần nữa thế nào là một làn sóng dân chủ.

Lịch sử thế giới xét cho cùng là cuộc hành trình cùa con người về tự do. Lịch sử cũng là cuộc hành trình của các dân tộc về dân chủ, vì dân chủ là phương thức tổ chức xã hội đặt nền tảng trên cá nhân và các quyền tự do cá nhân. Dân chủ là cách thể hiện tự do trong đời sống xã hội. Đây là cuộc hành trình rất khó khăn bởi vì cho tới cuối thế kỷ 18, trừ một vài ngoại lệ nhỏ, nhân loại đã chỉ biết đến các chế độ chuyên chính, thông thường là các chế độ quân chủ thần quyền. Dân chủ từ khi ra đời đã không ngừng bị sự phản công của các thế lực chuyên chính để dập tắt dân chủ bằng bạo lực và phủ nhận dân chủ bằng lý luận. Hai mặt trận chống dân chủ này luôn luôn và bắt buộc đi đôi với nhau, vì chế độ chính trị nào cũng phải đặt trên hai cột trụ thuyết phục và khuất phục, trong đó thuyết phục là chính. Thuyết phục để khỏi phải dùng tới bạo lực, bạo lực chỉ dùng để khuất phục những phần tử không thể thuyết phục.

Do sự chống đối gay gắt đó, dân chủ không tiến triển một cách đều đặn mà theo từng đợt, mỗi đợt nhắm bác bỏ một chủ nghĩa và đánh đổ một số chế độ độc tài lấy chủ nghĩa đó làm nền tảng hoặc nhờ chủ nghĩa đó mà tồn tại. Ngược lại, các chế độ độc tài cũng chống trả một cách dai dẳng, chúng không ngừng tìm kiếm những lập luận mới để thích nghi tối đa nền tàng lý thuyết với thực tại mới để tiếp tục tồn tại. Lịch sử đã chứng kiến các chế độ độc tài nhiều khi phản ứng một cách khá sáng tạo để từ khước dân chủ. Thí dụ như sau khi các chế độ quân chủ thần quyền sụp đổ, các chế độ Quốc Xã Đức, Phát Xít Ý và Quân Phiệt Nhật đã khai thác tối đa lòng tự hào dân tộc, trong khi các chế độ cộng sản khai thác chênh lệch giàu nghèo để tự cho mình vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh giai cấp. Trước mỗi đợt phản công của các thế lực chuyên chính như vậy dân chủ cần chứng tỏ sự đúng đắn của mình và cũng cần một thời giờ để tự cải tiến và thuyết phục. Cuộc đấu càng khó khăn vì đặc tính của dân chủ là từ khước chiến tranh và bạo lực. Vũ khí của dân chủ là thuyết phục chứ không phải là chiến tranh, vì vậy mà các làn sóng dân chủ chỉ dâng lên khi tâm lý thế giới đã chín muồi cho một thay đổi. Dân chủ thắng không phải vì có bạo lực, mà vì không gì mạnh bằng một ý kiến đã chín muồi.

Như vậy mỗi làn sóng dân chủ sẽ chỉ dừng lại sau khi ý thức hệ mà nó nhắm đánh đổ đã hoàn toàn sụp đổ cùng với các chế độ lấy nó làm nền tảng. Cũng có một số chế độ độc tài sống sót. Đó là những chế độ biết thích nghi với tình huống mới theo một trong hai kịch bản.

Kịch bản thứ nhất là chuyển hóa thực sự về dân chủ. Đó đã trường hợp của phần lớn các nước cộng sản Đông Âu sau 1990.

Kịch bản thứ hai là chấp nhận cởi mở một phần, từ bỏ một cách quan trọng ý thức hệ cũ và khai thác một khuynh hướng chính trị mới. Đó đã trường hợp của Trung Quốc và Việt Na; cả hai chế độ đã theo phương châm "mèo trắng mèo đen" của Đặng Tiểu Bình, bớt đề cao chủ nghĩa Mác- Lênin và chấp nhận "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Trước đó các chế độ độc tài Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Châu Mỹ La Tinh cũng đã chuyển hướng lấy lập trường chống cộng sản làm lý do tồn tại sau thế chiến II. Kịch bản thứ hai này chỉ có thể diễn ra với điều kiện là vào lúc đó chế độ tìm được chỗ dựa ý thức hệ ở một khuynh hướng mới.

Trong lịch sử thế giới đã có ba làn sóng dân chủ. Chúng ta đang ở cao điểm của là sóng dân chủ thứ tư.

Làn sóng dân chủ thứ nhất, khởi đầu cuối thế kỷ 18 với cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ và cuộc Cách Mạng Pháp đánh đổ các chế độ quân chủ thần quyền, bắt đầu bằng các chế độ đặt nền tảng trên Thiên Chúa Giáo.

Làn sóng dân chủ thứ hai bùng lên cùng với Thế Chiến II đánh gục chủ nghĩa dân tộc sô vanh và các chế độ lấy nó làm cứu cánh.

Làn sóng dân chủ thứ ba xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản và chấm dứt chiến tranh lạnh. Nó bắt đầu bằng cách loại bỏ các chế độ độc tài sống nhờ chiêu bài chống cộng, sau đó đánh sập chủ nghĩa cộng sản và phong trào cộng sản thế giới.

Để hiểu làn sóng dân chủ thứ tư mà chúng ta đang chứng kiến trước hết cần hiểu tại sao làn sóng dân chủ thứ ba đã khựng lại. Đó là vì thế giới đã quá vui mừng sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ năm 1989 và nghĩ rằng dân chủ đã thắng. Nhiều người còn cho rằng lịch sử sắp chấm dứt; một trong những tác phẩm chính trị bán chạy nhất lức đó có tựa đề "Hồi kết thúc của lịch sử" (1). Thế giới cảm thấy quá nhẹ nhõm và mất cảnh giác. Điều này có thể hiểu được. Chiến tranh lạnh đã quá gay go và nguy hiểm. Lần đầu tiên nhân loại bị đặt trước nguy cơ có thể bị tiêu diệt trong kinh hoàng bằng vũ khí nguyên tử nếu chiến tranh lạnh biến thành chiến tranh thực sự.

Chính trong hơi thở phào nhẹ nhõm sau một giai đoạn quá căng thẳng đó chủ nghĩa thực tiễn (realism) đã nhanh chóng trở thành luật chơi trong bang giao quốc tế. Chủ nghĩa thực tiễn không mới. Nó là một thái độ chính trị đã có từ ngày có lịch sử. Nó có thể được định nghĩa một cách giản dị nhưng chính xác như một chọn lựa chính trị dành cho quyền lợi chỗ đứng trước hết và trên hết, nghĩa là mỗi khi có mâu thuẫn giữa quyền lợi và các giá trị đạo đức thì quyền lợi phải được dành ưu tiên. Nó đã từng mang những tên gọi giai đoạn khác nhau, tại các nước phương Tây trong thời kỳ chiến tranh lạnh nó là chủ nghĩa "thà đỏ còn hơn chết" (Plutôt rouge que mort, rather red than dead). Quyền lợi ở đây phải được hiểu là quyền lợi cụ thể và ngắn hạn, bởi vì mọi hành động xét cho cùng đều nhắm một lợí ích nào đó. Nhưng những lợi ích dài hạn có thể mâu thuẫn với quyền lợi ngắn hạn, điều mà những chính khách mị dân không nhìn thấy hoặc muốn nhìn thấy.

Đặc tính của chủ nghĩa thực tiễn là nhắm những quyền lợi trước mắt. Nó chỉ là một tên gọi khác của sự thiển cận. Chủ nghĩa thực tiễn đã bị các nhà lãnh đạo chính trị lớn nhận diện từ lâu và gạt bỏ một cách khinh bỉ; tuy vậy nó vẫn tồn tại vì có sự cám dỗ của một giải pháp dễ dàng. Và nó đã hồi sinh vì thế giới đã quá mệt mỏi sau chiến tranh lạnh và quá nhẹ nhõm sau khi bức tường Berlin sụp đổ.

Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1992 tại Mỹ Bill Clinton, một thanh niên trốn lính, đã đánh bại George Bush, một anh hùng của Thế Chiến II và một tổng thống lỗi lạc đã góp phần quyết định đánh gục khối cộng sản và chấm dứt chiến tranh lạnh. Khẩu hiệu của Clinton là "chỉ biết có kinh tế" (Economy, stupid !). Đó cũng là tên gọi mới của chủ nghĩa thực tiễn. Tại Pháp, từ năm 1993 đảng Tập Hợp Cộng Hòa của Jacques Chirac giành được đa số trong quốc hội và nắm chính quyền, năm 1995 Chirac đắc cử tổng thống. Chirac không những chỉ thực tiễn mà còn ve vãn các chế độ bạo ngược bằng cách công khai chống lại các đòi hỏi dân chủ tại các nước chưa phát triển.

Trong gần 20 năm áp dụng, chủ nghĩa thực tiễn đã bỏ qua các giá trị đạo đức và nhân quyền để bình thường hoá các chế độ độc tài bạo ngược đã rất chao đảo sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Các chế độ này không những được củng cố nhờ trao đổi thương mại với các nước dân chủ phát triển, mà còn liên kết với nhau và trở thành một đe dọa cho dân chủ và hòa bình. Quan hệ thương mại với các nước dân chủ đã không khiến các chế độ độc tài trở thành cởi mở và thân thiện, trái lại chỉ giúp chúng thêm sức mạnh để đối đầu. Lý do là vì ý thức hệ bao giờ cũng quyết định sự chọn lựa bạn và thù.

Về mặt kinh tế, ba đặc tính của chủ nghĩa thực tiễn là: nó tự nhiên dẫn tới chọn lựa kích thích tăng trưởng kinh tế bằng tiêu xài; nó tự nhiên dẫn tới thâm thủng mậu dịch và nợ công tại các nước phát triển; và nó là thả lỏng đầu cơ tài chính. Cuối cùng sau khi đã cứu vãn và tăng cường các chế độ cộng sản đáng lẽ phải sụp đổ nó dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế.

Làn sóng dân chủ thứ tư mà chúng ta đang chứng kiến chính là sự bác bỏ giận dữ, dứt khoát và vĩnh viễn chủ nghĩa thực tiễn. Nó sẽ chỉ dừng lại khi tất cả các chế độ độc tài sống nhờ chủ nghĩa thực tiễn đã chuyển hóa về dân chủ hoặc sụp đổ. Hiểu như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng nó không thể dừng lại ở biên giới Việt Nam và Trung Quốc mà sẽ cuốn đi cả hai chế độ độc tài này bởi vì cả hai đều đã chỉ sống sót và tồn tại nhờ chủ nghĩa thực tiễn.

Làn sóng dân chủ mới này đã bùng nổ một cách ngoạn mục và dữ dội tại các nước Hồi Giáo Bắc Phi và Trung Đông. Trong tương lai rất gần, chế độ độc tài Al-Assad sẽ bị đánh đổ và cả khối Ả Rập sẽ bước vào kỷ nguyên dân chủ. Tuy vậy sẽ là một sai lầm lớn nếu coi nó là một hiện tượng Hồi Giáo. Sở dĩ nó ngoạn mục và dữ dội tại các nước này là vì, ngoài vấn đề chung của các nước chưa có dân chủ các nước Hồi Giáo, còn có một vấn đề đặc biệt đáng lẽ đã phải giải quyết từ lâu nhưng vẫn chưa được giải quyết, đó là đưa Hồi Giáo ra khỏi chính trị và về địa vị của một tôn giáo. Mùa Xuân Ả Rập chỉ là một phần của một làn sóng dân chủ mới, làn sóng dân chủ đích thực nhất và toàn cầu nhất trong lịch sử thế giới.

Tại các nước dân chủ phát triển, nhất là Mỹ và Châu Âu, qua phong trào phẫn nộ (Mouvement des Indignés, Occupy Wall Street), nó đòi hỏi một cách cai trị lành mạnh hơn, đặt chính trị lên trên kinh tế và đặt kinh tế lên trên tài chính, tôn vinh sản xuất thay vì đầu cơ, giảm bớt chênh lệch giàu nghèo, chấm dứt thâm thủng mậu dịch và giảm nợ công; nó không chấp nhận đồng hóa quyền lực với mãi lực và đòi hỏi quyền lực phải thuộc về những người được dân bầu ra chứ không thể ở trong tay các ngân hàng. Tóm lại là vất bỏ chủ nghĩa thực tiễn và chọn lựa cho mọi vấn đề những giải đáp đúng đắn, dài hạn.

Tại Nga, Putin cho đến gần đây tưởng chừng như không lay chuyển được vì không hề gặp một sự chống đối nào, đang bị chống đối ngày càng mạnh. Tình hình có thể thay đổi rất nhanh chóng vì Putin là sản phẩm của chủ nghĩa thực tiễn. Một cách thực tiễn, sau quá nhiều năm bê bối và rối loạn dưới thời Yeltsin, người Nga đã mong muốn trước hết sự ổn định. Ngày nay họ đòi tự do và dân chủ.

Tại Trung Quốc, chủ nghĩa thực tiễn, ấn bản kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tích lũy đủ mâu thuẫn nội bộ để không thể tiếp tục. Vả lại chế độ cộng sản Trung Quốc đã chỉ sống sót nhờ chính sách đối ngoại thực tiễn Hoa Kỳ và Châu Âu. Cũng như các tập đoàn cầm quyền bạo ngược khác, nó đã được mặc sức đàn áp những tiếng nói phản kháng, tha hồ bóc lột công nhân và bất chấp môi trường để sản xuất thật nhiều với giá thật rẻ và xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Châu Âu.
Đó là hậu quả của chính sách đối ngoại thực tiễn của các nước dân chủ trong hơn hai mươi năm qua. Người ta hy sinh các giá trị đạo đức và nhân quyền, bỏ mặc hàng tỷ người dưới những ách thống trị dã man nhân danh kinh tế. Nhưng cuối cùng chủ nghĩa thực tiễn đã chỉ đem đến cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất, dài nhất và trầm trọng nhất trong lịch sử thế giới. Ngày nay nó đã phơi bày sự độc hại và bị bác bỏ.

Chế độ Trung Quốc sẽ thích nghi như thế nào? Bài toán dân chủ hóa Trung Quốc sẽ rất gay go vì gắn liền với sự thống nhất của Trung Quốc. Điều chắc chắn là Trung Quốc không còn chọn lựa nào khác hơn là dân chủ hóa.

Cũng cần nhận định là làn sóng dân chủ thứ tư đã bắt đầu tại Đông Á trước khi bùng lên tại Bắc Phi.

Nước Đông Á ổn vững nhất gần đây là Indonesia, nước Hồi Giáo lớn nhất và cũng là nước Đông Á đông dân thứ nhì. Lý do là vì Indonesia đã là một nước dân chủ ổn vững từ gần 15 năm qua.

Sinh hoạt chính trị đã sôi động tại Singapore ngay từ năm 2007 khi đối lập giành được trên 33% số phiếu trong cuộc bầu cử quốc hội. Trong cuộc bầu cử tháng 7-2011 đối lập dành được trên 40% số phiếu.

Tại Mã Lai, Liên Minh Vì Bầu Cử Lương Thiện, Bershi, đã thành hình ngay từ cuối năm 2006; trong hai năm 2007 và 2008 họ đã tổ chức được các cuộc biểu tình bất bạo động chống bầu cử gian trá với hàng chục ngàn người tham gia. Kết quả là trong cuộc bầu cử quốc hội 2008 đảng cầm quyền Mặt Trận Quốc Gia mất đa số 2/3 mà nó vẫn có từ 1969. Có rất nhiều triển vọng nó sẽ mất luôn đa số quá bán trong cuộc tổng tuyển cử năm tới.

Tại Mã Lai cũng như tại Singapore, dân chủ hình thức đang nhường chỗ cho dân chủ thực sự. Vào lúc này không ai còn có thế nói Singapore và Mã Lai là những chế độ không dân chủ. Cũng nên lưu ý là hai chính quyền Singpore và Mã Lai đã từng đề cao cái mà họ gọi là "những giá trị Châu Á" để từ chối thực hiện dân chủ một cách toàn diện. Chi tiết này quan trọng ở chỗ không còn ai nhắc đến "những giá trị Châu Á" này nữa.

Tại Thái Lan, dân chủ đã được thiết lập từ 1997 sau cuộc khủng hoảng Châu Á. Năm 2006 quân đội đảo chính và cầm quyền nhưng đã gặp sự chống trả mạnh mẽ và liên tục của các lực lượng dân chủ. Năm 2008 họ đã phải trao lại phần lớn quyền lực cho một chính quyền dân sự, để rồi phải triệt thoái hoàn toàn khỏi chính trị sau cuộc bầu cử tháng 7- 2011.

Nhưng biến cố ngoạn mục gần đây nhất đã xảy ra tại Miến Điện như chúng ta đều đã thấy. Một cách đột ngột chính quyền quân đội Miến đã tách hẳn khỏi ảnh hưởng Trung Quốc, phóng thích các tù nhân chính trị, bắt tay với Liên Minh Dân Chủ của Aung San Suu Kyi và tổ chức bầu lại một phần quốc hội trong đó Liên Minh Dân Chủ đại thắng, giành được 33 trong tổng số 34 đơn vị được bầu lại.

Biến chuyển tại Miến Điện không phải tình cờ, nó là thành quả phối hợp của áp lực thế giới, của nỗ lực mở rộng ảnh hưởng của Ấn Độ và của chiến lược tái khẳng định của Hoa Kỳ tại Châu Á. Điều này đặc biệt có ý nghĩa bởi vì Obama vốn theo chủ nghĩa thực tiễn, việc ông đổi thái độ chứng tỏ Hoa Kỳ đã có những lý do quan trọng để thay đổi chính sách đối ngoại.

Cũng thế, Ấn Độ cho tới nay vẫn theo đuổi một chính sách đối ngoại dè dặt, nay trở nên tích cực và thách thức đối với Trung Quốc, chắc chắn họ phải thấy được rằng bối cảnh thế giới đã thay đổi. Miến Điện chưa phải là một nước dân chủ nhưng trong một năm họ đã đi một đoạn đường dân chủ hóa dài và tiến trình dân chủ hóa không thể đảo ngược được nữa.

Còn Việt Nam?

Sau những chuyển biến vừa rồi Việt Nam trở thành nước độc tài duy nhất có tầm vóc trong khối ASEAN và sẽ ngày càng bị cô lập, có triển vọng còn bị lên án vì những vi phạm nhân quyền.

Ngoài sự kiện bị nhân dân thù ghét chính quyền cộng sản còn có những mâu thuẫn nghiêm trọng khác. Họ thách thức thế giới khi chà đạp các giá trị dân chủ và nhân quyền, nhưng lại lệ thuộc rất nặng nề vào thế giới. Tổng số xuất và nhập khẩu của Việt Nam gần bằng hai lần GDP (chính xác là 167%), một mức độ lệ thuộc ngoại thương chỉ thấy ở một vài nước rất nhỏ.

Đã thế kinh tế Việt Nam lại còn lệ thuộc vào thế giới một cách rất bênh hoạn vì, tuy là một kinh tế hướng ngoại dựa vào xuất khẩu, Việt Nam thâm thủng mậu dịch kinh niên. Thâm thủng mậu dịch sớm muộn cũng biến thành nợ nước ngoài nên con số nợ nước ngoài thực sự của Việt Nam chắc chắn phải nhiều lần lớn hơn con số chính thức 50 tỷ USD.

Chính quyền cộng sản Việt Nam dựa vào Trung Quốc nhưng Trung Quốc lại chính là nước chèn ép và gây thiệt hại cho Việt Nam nhất. Thâm thủng mậu dịch của Việt Nam chủ yếu là thâm thủng đối với Trung Quốc. Và dù muốn hay không cũng không thể dựa vào Trung Quốc được nữa bởi vì chính Trung Quốc đang sắp chao đảo, và chao đảo mạnh.

Ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam thực hiện chính sách toàn trị nhưng họ lại chỉ có những cấp lãnh đạo mờ nhạt. Con người nhiều quyền lực nhất, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lại cũng là người bị thù ghét và khinh thường nhất. Họ cố bưng bít và xuyên tạc nhưng trong nước lại có tới 120 triệu điện thoại di động và 35 triệu người sử dụng internet và con số này tiếp tục tăng hơn 20% mỗi năm.

Những mâu thuẫn đó trong một bối cảnh kinh tế nguy ngập và nhân dân phẫn nộ vì tham nhũng, bất công và cướp đoạt; hàng triệu thanh niên tốt nghiệp đại học và cao đẳng không tìm được việc làm và hàng triệu dân oan bị cướp đất cướp nhà. Việt Nam có tất cả mọi yếu tố cần có cho một cuộc cách mạng. Và đàng nào thì làn sóng dân chủ này cũng không thể dừng lại ở biên giới Việt Nam. Logic của nó là quét sạch chủ nghĩa thực tiễn và đánh đổ mọi chế độ sống nhờ chủ nghĩa thực tiễn, mà chế độ cộng sản Việt Nam là một trường hợp điển hình. Nó chỉ có chọn lựa giữa thích nghi hoặc sụp đổ. Thay đổi nhất định phải đến.

Nhưng bao giờ dân chủ mới đến còn là một câu hỏi mà câu trả lời chủ yếu tùy thuộc trí thức Việt Nam. Cần nhắc lại một lần nữa là cuộc cách mạng đúng nghĩa nào cũng phải do trí thức khởi xướng và lãnh đạo. Chân lý này lại càng đúng trong kỷ nguyên tri thức này. Tất cả mọi điều kiện khách quan đã hội đủ cho cuộc cách mạng dân chủ, dân trí cũng đã chín muồi. Tiến trình dân chủ hóa Việt Nam giống như một con tầu mà tất cả đều đã sẵn sàng để khởi hành trừ đầu tầu. Đầu tầu đó là trí thức. Thảm kịch của chúng ta là thiếu một tầng lớp trí thức chính trị. Đó là một di sản văn hóa. Chủ nghĩa truyền thống của trí thức Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử chính là chủ nghĩa thực tiễn, nghĩa là đặt quyền lợi lên trên các giá trị đạo đức, sẵn sàng cúi đầu trước những kẻ có quyền lực, vì an ninh và lợi lộc. Đó chính là chủ nghĩa mà làn sóng dân chủ mới này muốn quét đi để làm sạch thế giới.

Giải pháp nào khi bắt buộc phải có đầu tầu nhưng đầu tầu lại không chạy? Có lẽ phải có một đầu tầu nhỏ để kéo cái đầu tầu này cho đến khi nó chuyển động và kéo đoàn tầu đi tới. Một cách cụ thể, đó là một đội ngũ nhỏ của những người dân chủ có quyết tâm và bản lãnh, những trí thức chính trị, kết hợp với nhau để động viên và lãnh đạo trí thức Việt Nam và buộc họ đảm nhiệm vai trò lịch sử. Với điều kiện là trí thức Việt Nam chấp nhận để được động viên và lãnh đạo, nghĩa là từ bỏ ít nhất một phần tập quán cúi đầu trước kẻ có quyền nhưng lại cứng đầu với kẻ có lý.

Nguyễn Gia Kiểng

(1) Francis Fukuyama - The end of history and the last man.

(Trích Phát biểu trong buổi hội luận "Đông Á và Việt Nam giữa làn sóng dân chủ thứ tư" do phân bộ Paris THDCĐN tổ chức ngày 17-06-2012 tại Paris).


Bình Luận

Thời Sự

Chuyên đề

 
http://danlambaovn.blogspot.com/search?max-results=50
Copyright © 2014 Dân Làm Báo