Tamnhin.net -Hôm nay (3/5/2011), đánh dấu 18 năm Ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới ra đời, nhằm đề cao và xúc tiến vai trò của tự do truyền thông. Đây là dịp để đánh dấu các nguyên tắc cơ bản về dự do báo chí; đánh giá tự do báo chí, bảo vệ truyền thông trước các vụ tấn công về tính độc lập của nhà báo.
| Phát biểu của Ông Phan Đăng Lưu trên tờ Dân Tiến, tháng 11 năm 1938 |
Chủ đề của Ngày Tự do Báo chí Thế giới năm 2011 là “Truyền thông Thế kỷ 21: Tiền tuyến mới, Rào cản mới”. Kỷ niệm ngày này, Tamnhin.net xin đăng lại phát biểu của Ông Phan Đăng Lưu trên tờ Dân Tiến, tháng 11 năm 1938.
Tự do báo chí không bao giờ có hại cho nhà cầm quyền, vì nhiều lẽ:
1. Khi các báo được tự do xuất bản thì chỉ những tờ báo có dân chúng ủng hộ mới có thể sống, còn không thì chết
hoặc sống ngắc ngoải, chẳng có ảnh hưởng gì đáng sợ.
2. Một tờ báo đã sống, đương nhiên nó đại diện cho một tầng lớp dân chúng, nó diễn đạt tất cả hoài vọng và chí hướng của đám dân ấy. Nhà cầm quyền muốn cai trị được hoàn thiện, không thể bỏ qua những hoài vọng hoặc chí hướng của đám dân này. Tất nhiên cũng cần đọc hết tờ báo ấy.
3. Một tờ báo nói vượt qua trình độ dân chúng, kêu gào dân chúng làm những việc tày trời không bao giờ dẫn đạo được dân chúng, sẽ bị dân chúng gạt qua bên mặt trận nghịch thù.
4. Một tờ báo sống một cách mạnh mẽ, có ảnh hưởng trong dân chúng, đưa ra những vấn đề trái ngược với quyền lợi của nhà cầm quyền, cũng chẳng có hại cho cuộc trị an. Nó chỉ là một tiếng còi báo trước cho chánh phủ hãy thay đổi chính sách cai trị đi để chuộc lòng dân.
Căn cứ vào những lẽ đó, chúng tôi quả quyết rằng tự do báo chí không bao giờ có hại cho nhà cầm quyền. Có hại chăng là một chánh sách cai trị hẹp hòi, đi ngược với sự tiến hóa của dân chúng mà thôi.
| Phan Đăng Lưu, (1902-1941) là nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông sinh ra tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông tốt nghiệp Trường Canh nông và tham gia Hội Phục Việt (sau đổi thành Tân Việt Cách mạng Đảng) làm đến chức uỷ viên Tổng bộ. Năm 1928, Phan Đăng Lưu tham gia xuất bản “Quan hải tùng thư” tại Huế; ông giữ chức uỷ viên thường vụ của Tổng bộ Đảng Tân Việt. Ngày 15 tháng 12 cùng năm, ông sang Trung Quốc để liên lạc với Tổng bộ Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Tháng 9/1929, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng và bị kết án tù khổ sai và đày đi Buôn Ma Thuột. Ra tù năm 1936, ông tham gia lãnh đạo phong trào Mặt trận Dân chủ ở Huế. Trong thời gian này ông đã viết nhiều bài báo, tác phẩm với bút danh Tân Cương, Phi Bằng. Năm 1938, ông được bầu uỷ viên ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông dương và uỷ viên thường vụ trung ương. Tháng 11/1939, ông tham dự Hội nghị thứ VI (Hội nghị quyết định nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế). Tháng 7/1940, ông thay mặt trung ương Đảng dự Hội nghị của xứ uỷ Nam Kì, thông qua đề cương chuẩn bị khởi nghĩa. Tháng 11/1940, ông tham dự Hội nghị VII của Ban Chấp hành trung ương Đảng. Tại Hội nghị này, ông được bầu là Ủy viên Thường vụ và được phân công chỉ đạo phong trào ở Nam Kỳ. Trung ương Đảng đã cử ông vào Nam Kì để thông báo hoãn cuộc khởi nghĩa. Tháng 11/1940, ông bị bắt khi vừa về đến Sài Gòn do kế hoạch bị bại lộ. Ngày 18/8/1941, ông bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị bắn ở Hóc Môn. |
Trần Thủy (tổng hợp)
http://www.tamnhin.net/doanh-nhan/10633/Ve-tu-do-bao-chi.html
Trả lờiXóaTỰ DO
của Paul ELUARD
Trên những quyển vở học trò
Trên bàn viết của tôi và cây cỏ
Trên cát trên tuyết
Tự do ơi ! Tôi xin viết tên Người
* * *
Trên tất cả trang sách đọc rồi
Trên tất cả trang giấy trắng của tôi
Trên đá máu giấy hay tro tàn
Tự do ơi ! Tôi nguyện viết tên Người
* * *
Trên những hình ảnh hoàng kim
Trên vũ khí người lính chiến chinh
Trên vương miện các vì vua chúa
Tự do ơi ! Tôi thề viết tên Người
* * *
Trên rừng thẳm và sa mạc
Trên tổ chim trên cây kim tước
Trên tiếng vọng dội đồng vọng thời thơ ấu
Tự do ơi ! Tôi quyết viết tên Người
* * *
Trên huyền diệu đêm đen
Trên cơm trắng tháng ngày
Trên những mùa đính hôn
Tự do ơi ! Tôi phải viết tên Người
* * *
Trên tất cả mảnh vải xanh bạt biển ngàn
Trên ao mặt trời hoen mốc
Trên hồ mặt trăng sinh động
Tự do ơi ! Tôi xin viết tên Người
* * *
Trên cánh đồng xanh trên chân trời
Trên cánh chim chơi vơi
Và trên cả máy xay hình với bóng
Tự do ơi ! Tôi thương viết tên Người
* * *
Trên mỗi phiến sương khói bình minh
Trên biển cả trên những con tàu
Trên núi rừng cuồng điên mất trí
Tự do ơi ! Tôi nguyện viết tên Người
* * *
Trên rong rêu mây bay ngàn năm phiêu bạt
Trên mồ hôi giông to bão táp
Trên màn mưa dầy và nhạt nắng phôi pha
Tự do ơi ! Tôi quyết viết tên Người
* * *
Trên những dạng hình lấp lánh
Trên những chuông sắc mầu gọi hồn lanh lảnh
Trên sự thật vuốt ve mơn trớn được
Tự do ơi ! Tôi xin viết tên Người
* * *
Trên những đường mòn tỉnh giấc
Trên con đường cái quan mở ra thẳng tắp
Trên nơi chốn tràn ngập người qua
Tự do ơi ! Tôi quyết viết tên Người
* * *
Trên ngọn đèn vừa thắp
Trên ngọn đèn vừa tắt
Trên những mái nhà nối hợp
Tự do ơi ! Tôi quyết viết tên Người
* * *
Trên trái cây cắt làm đôi
Từ gương soi và từ phòng tôi
Trên giường tôi vỏ ốc trống rỗng
Tự do ơi ! Tôi nguyện viết tên Người
* * *
Trên con chó của tôi tham ăn và dịu dàng
Trên hai tai vểnh lên
Trên cẳng chân vụng về
Tự do ơi ! Tôi thề viết tên Người
* * *
Trên ván gỗ cửa nhà tôi
Trên mọi vật thể quen thuộc
Trên dòng lửa thờ phụng hiến dâng
Tự do ơi ! Tôi xin viết tên Người
* * *
Trên da thịt hài hòa
Trên trán của những bạn bè
Trên mỗi bàn tay đưa ra bắt nắm
Tự do ơi ! Tôi quyết viết tên Người
* * *
Trên cửa gương ngỡ ngàng
Trên đôi môi đợi chờ thắm thiết
Ngay bên trên niềm yên lặng
Tự do ơi ! Tôi xin viết tên Người
* * *
Trên nơi ẩn náu hoang tàn
Trên ngọn đèn pha tàn lụi
Trên những bức tường của nỗi khổ đau cay đắng
Tự do ơi ! Tôi nguyện viết tên Người
TỰ DO
Nguyễn Hữu Viện dịch
Ðược dịch lần đầu tháng giêng năm 1972, trích trong tuyển tập thơ trữ tình Anh - Pháp - Mỹ " Những Phiến Lệ Hồng trong Thi Ca " đang chuẩn bị in năm 1975 thì Miền Nam ...